vanban.org

Bản án 111/2026/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Lâm Đồng Tuyên án 02/06/2026 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 02/06/2026 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

sự; điểm b khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày

30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Tống Đại H; Giữ nguyên Bản án Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tống Đại H - Trương Công S " cố ý gây thương tich - cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi…"
  • Tòa quyết gì? sự; điểm b khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
T LÂM ĐỒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 111/2026/HS-PT
Ngày: 02 - 6 - 2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN T LÂM ĐỒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hồng Thái

Các Thẩm phán:

Ông Vũ Đức Hùng

Ông Hoàng Rung K’Nhơn

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Nghị là Thư ký Tòa án nhân dân T Lâm

Đồng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân T Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Bà

Chu Thị Dịu - Kiểm sát viên.

Ngày 02 tháng 6 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét

xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 127/2026/TLPT-HS

ngày 08 tháng 5 năm 2026 đối với bị cáo Tống Đại H, do có kháng cáo của bị cáo

đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 52/2026/HS-ST ngày 25 tháng 3 năm 2026 của

Tòa án nhân dân khu vực 1 - Lâm Đồng.

- Bị cáo có kháng cáo: Tống Đại H, sinh ngày 21/9/1994 tại T Ninh Thuận

(nay là T Khánh Hòa); Nơi cư trú: Số 113 Lý Thái Tổ, thị trấn Liên Nghĩa, huyện

Đức Trọng, T Lâm Đồng (nay là xã Đ, T Lâm Đồng); nghề ngH: không; Trình độ

văn hóa (học vấn): 8/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: không; Quốc

tịch: Việt Nam; con ông Tống Văn N (đã chết) và bà Nguyễn Thị Kim A; bị cáo

có vợ và 02 con;

Tiền án: Vào ngày 19/8/2021, bị Tòa án nhân dân huyện Đức Trọng xử phạt

30 (ba mươi) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” tại Bản án hình sự

sơ thẩm số 110/2021/HS-ST, chấp hành xong hình phạt ngày 20/5/2023; Tiền sự:

không; Nhân thân: Ngày 19/9/2013, bị Công an thành phố Đà Lạt, T Lâm Đồng

xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi xâm hại đến tính mạng, sức khỏe của người

khác.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 23/5/2024, hiện đang bị tạm giam tại Phân

trại Tạm giam khu vực Đà Lạt – Trại tạm giam số 1, Công an T Lâm Đồng; có

mặt tại phiên tòa.

- Ngoài ra, vụ án còn có 04 bị cáo khác không có kháng cáo và không bị

kháng cáo, kháng nghị.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung

vụ án được tóm tắt như sau:

Theo Bản án sơ thẩm:

Vào khoảng 19 giờ 40 phút ngày 03/12/2023, Trương Công S, Tống Đại H,

Phạm Văn D, Nguyễn Anh T đến quán “Ốc đêm” ở 204 Nguyễn Công Trứ, phường Lâm Viên – Đà Lạt, T Lâm Đồng để ăn uống; Khi đến nơi thì nhóm của S gặp nhóm bạn của D gồm: Nguyễn Đình T, Dương Văn Đ, Trần H, do có quen biết nên hai nhóm ngồi chung với nhau. Quá trình ăn uống, S nhìn qua bàn bên cạnh thấy anh Trần Liêng K đang nhìn S, S cho rằng K nhìn đểu và có thái độ thách thức nên S nói lại việc này với cả bàn. Đến 21 giờ 30 phút cùng ngày, nhóm của S ra về, khi S đi ngang qua bàn của anh K để tính tiền thì S thấy anh K vẫn tiếp tục nhìn nên S chửi: “Mày thích nhìn không” rồi xông đến nắm vào phần cổ, tay phải cầm 01 ly thuỷ tinh, kích thước khoảng 20x10cm đánh một cái trúng vào ngực của anh K. Thấy K bị đánh, anh Đa Guốt J, anh Liêng Hót L cùng anh K xông vào xô đẩy và dùng tay chân đánh S. Thấy S bị đánh, H xông đến dùng tay, chân đánh nhiều cái vào người, đầu và mặt làm anh J té ngã xuống đất, đồng thời lấy hai tay ôm mặt. Thấy vậy, H tiếp tục lấy một ly thủy tinh, kích thước khoảng 20x10cm đánh 02 cái vào mặt khiến anh J chảy máu và gục xuống đất. Thời điểm này, Dcầm 01 ghế nhựa màu đỏ, kích thước khoảng 50x60cm chạy đến đánh nhóm của anh J, rồi dùng chân đạp vào đầu anh J đang nằm dưới đất, T xông đến định đánh anh J nhưng bị cản lại nên T đứng chửi: “Mấy thằng mất dạy, đánh chết mẹ tụi nó đi”. Tiếp đó, anh Lchạy đến dùng chân đạp vào người H khiến H té ngã xuống đất nên Dương, H, T, Đ rượt đuổi anh L ra đến phía ngoài đường Nguyễn Công Trứ, lúc này Đ cầm 01 ly thuỷ tinh ném về phía anh L nhưng không trúng, Dlao đến dùng tay, chân đánh nhiều cái vào người của anh L, T dùng 01 ly thuỷ tinh, kích thước khoảng 20x10cm đánh 02 cái vào đầu và lưng của anh L còn H và Đ dùng tay chân đánh anh L, anh L vùng vẫy thoát ra được rồi bỏ chạy thì Ddùng 01 bàn inox ném về phía anh L nhưng không trúng thì được người dân can ngăn nên cả nhóm bỏ ra về. Sau đó, anh Đa Guốt J và anh Liêng Hót L được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện Đa khoa T Lâm Đồng.

Vật chứng thu giữ:

- 01 USB loại Kingston 02GB – DTSE9, màu bạc bên trong chứa dữ liệu

điện tử được trích xuất từ camera an ninh ghi lại sự việc đánh nhau gây mất an ninh trật tự tại đường Nguyễn Công Trứ, Phường 8, thành phố Đà Lạt vào tối ngày 03/12/2023, được niêm phong theo quy định.

- 01 USB loại Sandick màu Đ có chữ màu đỏ, 4GB được trích xuất từ video

trong điện thoại của ông Nguyễn Đức T tại địa chỉ 204 Nguyễn Công Trứ, Phường 8, thành phố Đà Lạt vào tối ngày 03/12/2023, được niêm phong theo quy định.

- 01 xe máy hiệu Wave RS, biển số: 49B1-46872: Cơ quan Cảnh sát điều

tra Công an T Lâm Đồng đã trả lại tài sản trên cho anh Nguyễn Đình T, anh T đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì khác.

Bị hại:

1. Anh Đa Guốt J bị thương tích ở mi trên mắt trái, môi trên trái, má trái,

mi dưới mắt trái.

Tại bản Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số

18/KLTTCT-PYQG ngày 17/01/2024 của Trung tâm Pháp y T Lâm Đồng, kết

luận: Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của Đa Guốt J tại thời điểm giám định là 25%,

tổn thương do vật có cạnh sắc gây nên. Quá trình điều tra, Trương Công S đã bồi

thường số tiền 50.000.000 đồng, Phạm Văn D đã bồi thường số tiền 50.000.000

đồng nên anh Đa Guốt J không yêu cầu bồi thường và không có thắc mắc, yêu cầu

gì khác.

2. Anh Liêng Hót L bị thương tích ở vùng chẩm phải, gáy phải góc hàm

trái, ngón II, III tay trái, ngón I, II, III tay phải.

Tại bản Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số

20/KLTTCT-PYQG ngày 17/01/2024 của Trung tâm Pháp y T Lâm Đồng kết

luận: Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của Liêng Hót L tại thời điểm giám định là

11%, tổn thương do vật có cạnh sắc nhọn gây nên. Quá trình điều tra, Trương

Công S đã bồi thường số tiền 50.000.000 đồng, Phạm Văn D đã bồi thường số

tiền 50.000.000 đồng nên anh Liêng Hót L không yêu cầu bồi thường và không

có thắc mắc, yêu cầu gì khác.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 52/2026/HS-ST ngày 25 tháng 3 năm 2026

của Tòa án nhân dân khu vực 1 – Lâm Đồng đã quyết định:

Tuyên bố: Các bị cáo Tống Đại H, Trương Công S, Phạm Văn D, Nguyễn

Anh T, Dương Văn Đ cùng phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Căn cứ vào: Điểm d khoản 3 Điều 134; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều

51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 58, Điều 38 Bộ luật Hình sự;

Xử phạt: Bị cáo Tống Đại H 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù

tính từ ngày 23/5/2024.

Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn tuyên về hình phạt đối với các bị cáo khác,

về phần bồi thường dân sự, lãi suất chậm thi hành án, án phí và quyền kháng cáo

theo luật định.

Ngày 03/4/2026, bị cáo Tống Đại H kháng cáo xin giảm hình phạt.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

- Bị cáo giữ nguyên kháng cáo và xin Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm giảm

nhẹ hình phạt.

- Kiểm sát viên phát biểu quan điểm về vụ án: Tòa án cấp sơ thẩm đã xem

xét, đánh giá đầy đủ các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để xử

phạt bị cáo 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” theo

điểm d khoản 3 Điều 134 Bộ luật Hình sự là thỏa đáng, phù hợp với tính chất,

mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét

xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự, không

chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo, giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 52/2026/HS-ST ngày 25 tháng 3 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 1 – Lâm Đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được

tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội

phù hợp với lời khai của bị cáo và đồng phạm tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở để kết luận: Vào khoảng 21 giờ 30 phút ngày 03/12/2023, do có mâu thuẫn trong lúc nhậu tại quán “Ốc đêm” ở địa chỉ số 204 đường Nguyễn Công Trứ, phường Lâm Viên – Đà Lạt, T Lâm Đồng, Trương Công S cùng Tống Đại H, Phạm Văn D, Nguyễn Anh T và Dương Văn Đ đã có hành vi dùng tay, chân, ly thủy tinh, ghế nhựa đánh gây thương tích cho anh Đa Guốt J với tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể là 25% (theo Kết luận giám định số 18/KLTTCT-PYQG ngày 17/01/2024 của Trung tâm Pháp y T Lâm Đồng) và anh Liêng Hót L với tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể là 11% (theo Kết luận giám định số 20/KLTTCT-PYQG ngày 17/01/2024 của Trung tâm Pháp y T Lâm Đồng).

[2] Với hành vi phạm tội như trên, Tòa án cấp sơ thẩm tuyên bố bị cáo Tống

Đại H cùng đồng phạm phạm tội “Cố ý gây thương tích” với tình tiết định khung tăng nặng “Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 11% đến 30% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này” theo quy định tại điểm d khoản 3 Điều 134 Bộ luật Hình sự là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật. Bị cáo cũng thừa nhận Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo là đúng, không oan, nên chỉ kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

[3] Xét kháng cáo của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng:

[3.1] Bị cáo là người trực tiếp gây thương tích cho các bị hại, là người thực

hành tích cực trong đồng phạm, phạm tội theo quy định tại điểm d khoản 3 Điều 134 Bộ luật Hình sự có mức hình phạt từ 05 năm đến 10 năm tù; Ngoài ra, bị cáo phạm tội thuộc trường hợp tái phạm theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự, nên Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù là không nặng và hoàn toàn phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo.

[3.2] Bị cáo kháng cáo xin giảm hình phạt, nhưng không đưa ra được tài

liệu, chứng cứ gì mới để Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm xem xét, nên kháng cáo của bị cáo không có cơ sở để chấp nhận, như quan điểm của Kiểm sát viên là phù hợp.

[4] Về án phí phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên bị cáo

phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

[5] Các phần khác của Bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có

hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình

sự; điểm b khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày

30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;

1. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Tống Đại H; Giữ nguyên Bản án

hình sự sơ thẩm số 52/2026/HS-ST ngày 25 tháng 3 năm 2026 của Tòa án nhân

dân khu vực 1 – Lâm Đồng về phần hình phạt đối với bị cáo Tống Đại H.

Tuyên bố: Bị cáo Tống Đại Hphạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Áp dụng: Điểm d khoản 3 Điều 134, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51,

điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 58, Điều 38 của Bộ luật Hình sự;

Xử phạt: Bị cáo Tống Đại H 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù

tính từ ngày 23/5/2024.

2. Về án phí phúc thẩm: Bị cáo Tống Đại H phải chịu 200.000 đồng (Hai

trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm số 52/2026/HS-ST ngày

25 tháng 3 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 1 – Lâm Đồng không bị kháng

cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng

nghị.

4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (02/6/2026).

Cỡ chữ