- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Lê Thị Đ - Trần Hữu V"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị Đ.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự tuyên quyền kháng cáo
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 - CẦN THƠ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 111/2026/HNGĐ-ST Ngày 21 - 4 - 2026 V/v Ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 – CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Liên Lâm Anh Thảo.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Huỳnh Văn Hiệp.
Bà Nguyễn Hồng Phượng.
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Văn Dũng - Thư ký viên Tòa án nhân dân khu vực 8 - Cần Thơ.
Ngày 21 tháng 4 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 8 - Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 344/2025/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 12 năm 2025 về việc “Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 145/2026/QĐXXST-DS ngày 04 tháng 3 năm 2026, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: chị Lê Thị Đ, sinh ngày 19/4/1990 “vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt”.
Địa chỉ: ấp T, xã T, tỉnh Vĩnh Long.
- Bị đơn: anh Trần Hữu V, sinh năm 1980 “vắng mặt”.
Địa chỉ: ấp H, xã V, thành phố Cần Thơ.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Trong đơn khởi kiện ngày 10 tháng 12 năm 2025 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là chị Lê Thị Đ trình bày:
- Về hôn nhân: chị Lê Thị Đ và anh Trần Hữu V tự nguyện chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn vào ngày 04/10/2010 tại Ủy ban nhân dân xã V, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng (nay là xã V, thành phố Cần Thơ). Sau khi kết hôn chị Đ và anh V chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm, nên cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc. Chị Đ và anh V đã sống ly thân từ năm 2018 cho đến nay, nên chị Đ yêu cầu ly hôn với anh V.
- Về con chung: trong thời gian chung sống chị Lê Thị Đ và anh Trần Hữu V không có con chung, nên không yêu cầu giải quyết.
- Về tài sản chung: trong thời gian chung sống chị Lê Thị Đ và anh Trần Hữu V không có tài sản chung, nên không yêu cầu giải quyết.
- Về nợ chung: trong thời gian chung sống chị Lê Thị Đ và anh Trần Hữu V không có nợ chung, nên không yêu cầu giải quyết.
Tại đơn đề nghị xét xử vắng mặt chị Lê Thị Đ vẫn giữ nguyên yêu cầu trên.
* Bị đơn là anh Trần Hữu V đã nhận được Thông báo về việc thụ lý vụ án của Tòa án nhân dân khu vực 8 – Cần Thơ, nên anh V đã biết được yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị Đ. Anh V không có ý kiến gì đối với yêu cầu của chị Đ.
Tòa án nhân dân khu vực 8 – Cần Thơ đã ban hành thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, đồng thời triệu tập anh Trần Hữu V tham gia phiên tòa hai lần hợp lệ, nhưng anh V vắng mặt không có lý do và anh V cũng không cung cấp lời khai cho Tòa án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: theo đơn khởi kiện ngày 10 tháng 12 năm 2025 của nguyên đơn chị Lê Thị Đ thì chị Đ kiện anh Trần Hữu V là bị đơn cư trú tại ấp H, xã V, thành phố Cần Thơ, nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 8 – Cần Thơ theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[1.2] Về quan hệ pháp luật: nguyên đơn chị Lê Thị Đ khởi kiện yêu cầu ly hôn với bị đơn anh Trần Hữu V, nên Hội đồng xét xử xác định quan hệ tranh chấp trong vụ án này là ly hôn theo quy định tại khoản 1 Điều 51 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[1.3] Chị Lê Thị Đ là nguyên đơn trong vụ án, vắng mặt tại phiên tòa, nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, vì vậy Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt chị Đ.
[1.4] Anh Trần Hữu V là bị đơn trong vụ án, đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai, nhưng vắng mặt tại phiên tòa không có lý do, vì vậy Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt anh V.
[2] Về quan hệ hôn nhân: chị Lê Thị Đ và anh Trần Hữu V tự nguyện kết hôn khi đã đủ tuổi kết hôn và đủ điều kiện kết hôn theo quy định tại khoản 1 Điều 8 của Luật Hôn nhân và gia đình, chị Đ và anh V có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã V, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng (nay là xã V, thành phố Cần Thơ) theo quy định tại khoản 1 Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình, nên hôn nhân của chị Đ và anh V là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn chị Đ và anh V chung sống hạnh phúc, được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng ý kiến nên chị Đ và anh V sống không còn hạnh phúc. Khi phát sinh mâu thuẫn thì chị Đ và anh V không cùng nhau khắc phục, tìm biện pháp giải quyết, động viên, an ủi nhau và đã sống ly thân từ năm 2018. Từ khi sống ly thân cho đến nay chị Đ và anh V không gặp nhau để bàn bạc về việc hàn gắn lại hạnh phúc gia đình, nên mâu thuẫn ngày càng trở nên trầm trọng, chị Đ yêu cầu được ly hôn; anh V không có ý kiến gì đối với yêu cầu của chị Đ.
Xét thấy: hiện nay hôn nhân của chị Lê Thị Đ và anh Trần Hữu V đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Chị Đ yêu cầu được ly hôn với anh V là phù hợp theo quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, nên Hội đồng xét xử chấp nhận, xử cho chị Đ được ly hôn với anh V.
[3] Về con chung: trong thời gian chung sống chị Đ và anh V không có con chung, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
[4] Về tài sản chung: trong thời gian chung sống chị Lê Thị Đ và anh Trần Hữu V không có tài sản chung, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
[5] Về nợ chung: trong thời gian chung sống chị Lê Thị Đ và anh Trần Hữu V không có nợ chung, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
[6] Về án phí dân sự sơ thẩm: áp dụng khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, buộc chị Lê Thị Đ phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, nhưng chị Đ được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0011990 ngày 10 tháng 12 năm 2025 của Thi hành án dân sự thành phố Cần Thơ (khu vực 8), như vậy chị Đ đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm; anh Trần Hữu V không phải nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm.
[7] Về quyền kháng cáo bản án: áp dụng Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự tuyên quyền kháng cáo cho các đương sự.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm a, b khoản 2 Điều 227, khoản 1, khoản 3 Điều 228, Điều 238, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 8, khoản 1 Điều 9, khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội; Điều 26 của Luật Thi hành án dân sự.
Tuyên xử: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị Đ.
1. Về hôn nhân: xử cho chị Lê Thị Đ được ly hôn với anh Trần Hữu V.
2. Về con chung: không có, nên không đặt ra xem xét giải quyết.
3. Về tài sản chung: chị Lê Thị Đ và anh Trần Hữu V không có yêu cầu gì, nên không đặt ra xem xét giải quyết.
4. Về nợ chung: chị Lê Thị Đ và anh Trần Hữu V không có yêu cầu gì, nên không đặt ra xem xét giải quyết.
5. Án phí dân sự sơ thẩm: chị Lê Thị Đ phải nộp 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, nhưng chị Đ được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0011990 ngày 10 tháng 12 năm 2025 của Thi hành án dân sự thành phố Cần Thơ (khu vực 8), như vậy chị Đ đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm; anh Trần Hữu V không phải nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm.
6. Về quyền kháng cáo bản án: nguyên đơn chị Lê Thị Đ và bị đơn anh Trần Hữu V có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.
7. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND TP Cần Thơ; - VKSND khu vực 8 – Cần Thơ; - Phòng THADS khu vực 8 – Cần Thơ; - UBND xã Vĩnh Hải; - Các đương sự; - Lưu: hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Liên Lâm Anh Thảo |