vanban.org

Bản án 111/2026/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị Kim T1 đối với anh Nguyễn Hoài T2.

Chị Nguyễn Thị Kim T1 được ly hôn với anh Nguyễn Hoài T2. Về con chung: Giao Nguyễn Thành L, sinh 14/10/2010 và Nguyễn Thanh X, sinh 21/7/2016 cho chị T1 tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị Kim T - Ly hôn, tranh chấp về nuôi con"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị Kim T1 đối với anh Nguyễn Hoài T2.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 12 - TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 111/2026/HNGĐ-ST
Ngày 31-3-2026
V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 - TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Cẩm.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Thị Thiểu;

Ông Nguyễn Văn Hải.

- Thư ký phiên tòa: Ông Hồ Bảo Việt là Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 12 - Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12 - Tây Ninh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Thùy - Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 3 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 12 - Tây Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 685/2025/TLST- HNGĐ ngày 20 tháng 11 năm 2025 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 69/2026/QĐXX-ST ngày 26 tháng 02 năm 2026 và Quyết định hoãn phiên tòa số 35/2026/QĐST-HNGĐ ngày 13 tháng 03 năm 2026, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Kim T1, sinh năm: 1985. Hộ khẩu thường trú tại: ấp P, xã P1, thành phố Cần Thơ; hiện tạm trú tại: ấp C, xã T, tỉnh Tây Ninh. Có đơn xin xét xử vắng mặt.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Hoài T2, sinh năm: 1981. Hộ khẩu thường trú tại: ấp P, xã P1, thành phố Cần Thơ; hiện tạm trú tại: ấp C, xã T, tỉnh Tây Ninh. Vắng mặt không lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 11 tháng 11 năm 2025 và bản tự khai - nguyên đơn chị Nguyễn Thị Kim T1 trình bày: Chị và anh Nguyễn Hoài T2 tự nguyện chung sống với nhau vào năm 2008, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P1, huyện P2, tỉnh Hậu Giang (nay là xã P1, thành phố Cần Thơ). Trong thời gian sống chung, vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn nguyên nhân do bất đồng quan điểm trong cuộc sống nên thường xuyên cãi vã. Anh T2 không có trách nhiệm với vợ con, thường xuyên bỏ nhà đi chơi 02 – 03 ngày mới về. Mặc dù vợ chồng vẫn sống chung một nhà nhưng không ai quan tâm đến ai.

Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung tên Nguyễn Thành L, sinh ngày 14/10/2010 và Nguyễn Thanh X, sinh ngày 21/7/2016. Hiện con chung đang sống chung với chị.

Về tài sản chung, về nợ chung: Không có.

Nay chị yêu cầu ly hôn với anh T2. Về con chung: chị yêu cầu tiếp tục nuôi con, không yêu cầu anh cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Anh Nguyễn Hoài T2 là bị đơn trong vụ án đã được Tòa án triệu tập nhiều lần nhưng không tham gia tố tụng nên Tòa án không ghi nhận lời khai của anh T2.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12 - Tây Ninh:

+ Về tố tụng: Thẩm phán thụ lý vụ án, thu thập chứng cứ, chuẩn bị xét xử và quyết định đưa vụ án ra xét xử đều bảo đảm đúng quy định về thời hạn, nội dung, thẩm quyền của Bộ luật Tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng trình tự, thủ tục đối với phiên tòa dân sự. Nguyên đơn thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình. Bị đơn chưa thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình.

Căn cứ các Căn cứ Điều 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 4 Điều 147, 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025); Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng thẩm phán TAND tối cao; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

+ Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị T1 đối với anh T2

+ Về con chung: Giao con chung là cháu Nguyễn Thành L, sinh 14/10/2010 và Nguyễn Thanh X, sinh 21/7/2016 cho chị T1 trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, ghi nhận chị T1 không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

+ Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu nên không đặt ra xem xét, giải quyết.

+ Về án phí sơ thẩm: Đương sự phải chịu án phí theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, xét thấy:

Về tố tụng: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Kim T1 vắng mặt nhưng có đơn xin vắng mặt; bị đơn anh Nguyễn Hoài T2 đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không lý do. Căn cứ khoản 1, 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt chị T1, anh T2 là phù hợp quy định.

Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Kim T1 và anh Nguyễn Hoài T2 chung sống với nhau, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P1, huyện P2, tỉnh Hậu Giang (nay là xã P1, thành phố Cần Thơ). Vợ chồng chung sống hạnh phúc không được bao lâu thì phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân theo chị T1 trình bày là do vợ chồng tính tình không hợp nhau nên thường xuyên cãi vã. Anh T2 không có trách nhiệm với vợ con. Chị T1 và anh T2 mặc dù vẫn sống chung một nhà nhưng không ai quan tâm đến nhau. Chị T1 yêu cầu ly hôn với anh T2. Anh T2 mặc dù đã được Tòa án niêm yết các văn bản tố tụng nhưng không đến tham gia phiên tòa thể hiện anh không có thiện chí hàn gắn hạnh phúc. Xét thấy hôn nhân của chị T1 và anh T2 lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, căn cứ Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị T1.

Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung tên Nguyễn Thành L, sinh 14/10/2010 và Nguyễn Thanh X, sinh 21/7/2016. Hiện đang sống chung với chị T1. Qua hỏi ý kiến cháu L, cháu X có nguyện vọng sống với chị T1. Khi ly hôn, chị T1 có nguyện vọng tiếp tục nuôi con. Do đó, chấp nhận yêu cầu của chị T1 giao cháu L, cháu X cho chị T1 tiếp tục nuôi dưỡng. Ghi nhận chị T1 không yêu cầu anh T2 cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về nợ chung: Không yêu cầu nên không đặt ra giải quyết.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Theo quy định tại Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì chị T1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm 300.000 đồng.

Xét ý kiến của đại diện Viện kiểm sát là có cơ sở chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1, 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Điều 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị Kim T1 đối với anh Nguyễn Hoài T2.

Chị Nguyễn Thị Kim T1 được ly hôn với anh Nguyễn Hoài T2.

2. Về con chung: Giao Nguyễn Thành L, sinh 14/10/2010 và Nguyễn Thanh X, sinh 21/7/2016 cho chị T1 tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục.

Anh T2 không phải cấp dưỡng nuôi con do chị T1 không yêu cầu.

Bên không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được quyền cản trở. Trường hợp bên không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung thì bên trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Toà án hạn chế quyền thăm nom con theo quy định của pháp luật. Bên trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được quyền cản trở bên không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung.

Khi cần thiết, trên cơ sở lợi ích của con chung thì bên trực tiếp nuôi con, bên không trực tiếp nuôi con, cơ quan, tổ chức và cá nhân có thẩm quyền có quyền yêu cầu Toà án thay đổi người nuôi con, việc cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật

3. Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu nên không đặt ra giải quyết.

4. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Kim T1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng theo biên lai số 0012779 ngày 20 tháng 11 năm 2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Tây Ninh; chị T1 đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm.

5. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án này lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh. Đối với đương sự vắng mặt, có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày Tòa án niêm yết theo quy định pháp luật./.

Cỡ chữ