- Tranh chấp gì? án hình sự — "Cướp giật tài sản - phạm tội cướp giật tài sản (điều 171 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn C phạm tội “Cướp giật tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 111/2025/HS-ST Ngày: 11-6-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Sinh.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Trương Ngọc Điệp;
- Ông Đặng Minh Lý.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Hiếu - Thư ký Tòa án nhân dân th nh phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành ph Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Mai Hường - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở T a án nh n d n th nh phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 94/2025/TLST-HS ngày 29 tháng 5 năm 2025; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 93/2025/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 5 năm 2025, đối với bị cáo:
Nguyễn Văn C, sinh năm 1988, CCCD số 070088003645, tại tỉnh Bình Dương; nơi cư trú: Số 1, đường N, tổ 5, khu phố T, phường A, th nh phố T, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Không; trình độ học v n: 5/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn N (đã chết) và bà Nguyễn Thị L (đã chết); bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân:
+ Ng y 04/6/2009, bị T a án nh n d n tỉnh Bình Dương xử phạt 07 năm tù về tội T ng trữ trái phép ch t ma túy; mua bán trái phép ch t ma túy, theo Bản án số 98/HSPT.
+ Ngày 05/10/2015, bị Công an phường Hưng Định, th nh phố Thuận An, tỉnh Bình Dương xử phạt h nh chính số tiền 750.000 đồng về h nh vi sử dụng trái phép ch t ma túy.
+ Ng y 01/6/2016, bị T a án nh n d n th nh phố Thuận An, tỉnh Bình Dương ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý h nh chính đưa v o cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời gian 15 tháng.
+ Ng y 19/11/2018, bị T a án nh n d n thị xã (nay l th nh phố) Thuận An, tỉnh Bình Dương xử phạt 02 năm 03 tháng tù về tội T ng trữ trái phép ch t ma túy, theo Bản án số 248/HSST.
Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ng y 02/4/2024 cho đến nay, có mặt.
Bị hại: B Nguyễn Thị N, sinh năm 1978; nơi cư trú: Số 2, khu phố 9, phường T, th nh phố T, tỉnh Bình Dương, vắng mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: B Nguyễn Thị Châu L, sinh năm 1990; nơi cư trú: Số 1, đường N, tổ 2, khu phố T, phường A, th nh phố T, tỉnh Bình Dương, vắng mặt.
- Người làm chứng: Ông Nguyễn Mạnh H, vắng mặt.
- Người chứng kiến: Ông Đỗ Đức Q, ông Nguyễn Thanh Tr, b Nguyễn Thị Thuý D, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các t i liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên t a, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 06 giờ 20 phút ng y 02/4/2024, Nguyễn Văn C điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, m u đỏ-đen, biển số 61C1-957.35 lưu thông trên đường Phan Đăng Lưu, theo hướng từ chợ Bưng Cầu ra đường Nguyễn Chí Thanh; khi đi đến đoạn qua khu phố 5, phường Hiệp An, th nh phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương thì C nhìn th y phía trước có chị Nguyễn Thị N đang điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, m u v ng, biển số 61B1-710.09 chạy cùng chiều, trên cổ chị N có mang 01 sợi d y chuyền bằng kim loại m u v ng nên C điều khiển xe mô tô biển số 61C1-957.35 chạy lên áp sát v o phía bên phải xe mô tô của chị N, rồi nhanh chóng dùng tay trái giật sợi d y chuyền trên cổ của chị N nhưng sợi d y chuyền bị đứt, c n vướng lại trên cổ của chị N. Lúc n y, giữa xe của C v chị N xảy ra va chạm nên cả hai xe v người ngã xuống đường Phan Đăng Lưu. Khi C đứng lên định dùng xe mô tô biển số 61C1-957.35 bỏ chạy thì chị N chạy lại giằng co với C nên C dùng tay đánh v o mặt chị N; chị N truy hô v được người d n gần đó chạy đến hỗ trợ bắt giữ C, bàn giao cho Công an phường Hiệp An lập biên bản tiếp nhận người bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang. Cùng ng y, Công an phường Hiệp An chuyển hồ sơ cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an th nh phố Thủ Dầu Một để giải quyết theo thẩm quyền.
Căn cứ Bản kết luận định giá t i sản số 574 ng y 21/10/2024 của Hội đồng định giá t i sản thường xuyên trong tố tụng hình sự th nh phố thủ Dầu Một kết luận: 01 sợi d y chuyền bằng hợp kim v ng, đã bị đứt, có khối lượng 10,7797 gam, trị giá 12.070.000 đồng (mười hai triệu, không trăm bảy mươi nghìn đồng). Quá trình điều tra, xác định: Sợi d y chuyền trên thuộc sở hữu của chị Nguyễn Thị N. Do đó, ng y 20/9/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an th nh phố Thủ Dầu Một đã trả lại cho chị N theo Quyết định xử lý vật chứng số 498; hiện chị N không có yêu cầu gì khác.
Đối với xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, m u đỏ-đen, biển số 61C1-957.35, quá trình điều tra, xác định: Xe mô tô trên do anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1982, cư trú tại số 111/3, p Phú Hưng, xã An Sơn, th nh phố Thuận An, tỉnh Bình Dương đứng tên trên gi y chứng nhận đăng ký xe. Anh T chết ng y 15/02/2023 (theo Trích lục khai tử số 36 ng y 16/02/2023). Nguyễn Văn C khai nhận xe mô tô trên do chị Nguyễn Thị Châu L (l em ruột của Nguyễn Văn C) quản lý, sử dụng. Qua l m việc, chị L cho biết đã mua chiếc xe trên từ người bạn ngo i xã hội với giá 4.000.000 đồng (bốn triệu đồng) nhưng chị L không nhớ rõ thời điểm mua. Ng y 02/4/2024, chị L cho C mượn xe mô tô trên để sử dụng l m phương tiện đi lại; việc C sử dụng xe mô tô trên để thực hiện h nh vi cướp giật t i sản của chị N, chị L không biết. Do đó, ng y 20/9/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an th nh phố Thủ Dầu Một đã trả lại xe mô tô trên cho chị L.
Đối với thương tích của chị Nguyễn Thị N do va chạm với xe mô tô biển số 61C1-957.35 của Nguyễn Văn C, quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an th nh phố Thủ Dầu Một đã yêu cầu bị hại N giám định thương tích nhưng chị N có đơn từ chối giám định thương tích, với lý do chỉ bị x y xát nhẹ v cam kết không khiếu nại gì.
Cáo trạng số 04/CT-VKSTDM ngày 10/12/2024 của Viện Kiểm sát nh n d n th nh phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Nguyễn Văn C về tội “Cướp giật t i sản” theo điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự. Tại phiên t a, đại diện Viện Kiểm sát nh n d n th nh phố Thủ Dầu Một giữ nguyên quyết định truy tố v đề nghị Hội đồng xét xử:
- Về hình phạt: Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn C mức hình phạt từ 03 năm 09 tháng đến 04 năm 03 tháng tù.
- Về xử lý vật chứng: Đã xử lý xong.
Tại phiên to bị cáo đã khai nhận h nh vi phạm tội của mình v không có ý kiến tranh luận; trong lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ v o các t i liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên t a, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về h nh vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nh n d n th nh phố Thủ Dầu Một, Kiểm sát viên trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra v tại phiên t a, bị cáo, người tham gia tố tụng cũng không có ý kiến hoặc khiếu nại về h nh vi, quyết định của cơ quan tiến h nh tố tụng, người tiến h nh tố tụng. Do đó, các h nh vi, quyết định của cơ quan tiến h nh tố tụng, người tiến h nh tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên t a, bị cáo Nguyễn Văn C đã khai nhận to n bộ h nh vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai của bị hại v các t i liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử đủ căn cứ kết luận: Khoảng 06 giờ 20 phút ng y 02/4/2024, trên đường Phan Đăng Lưu, đoạn qua khu phố 5, phường Hiệp An, th nh phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương, bị cáo Nguyễn Văn C dùng thủ đoạn nguy hiểm l điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, m u đỏ-đen, biển số 61C1-957.35 chạy áp sát v o xe mô tô của chị Nguyễn Thị N, rồi giật sợi d y chuyền bằng hợp kim v ng trên cổ của chị N (sợi d y chuyền bị đứt, vướng trên cổ của chị N), có trị giá 12.070.000 đồng thì bị chị N v người d n bắt giữ giao cho Công an phường Hiệp An lập biên bản tiếp nhận người bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang. Nên hành vi mà bị cáo thực hiện đủ yếu tố c u th nh tội “Cướp giật t i sản” theo điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự. Bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Do vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nh n d n th nh phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo với tội danh v điều khoản như trên l có căn cứ v đúng pháp luật.
H nh vi của bị cáo l nguy hiểm cho xã hội, không những x m phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về t i sản của công d n được pháp luật bảo vệ m c n g y m t trật tự, trị an tại địa phương nơi xảy ra vụ án. Bị cáo nhận thức được h nh vi chiếm đoạt t i sản của người khác l vi phạm pháp luật nhưng v n thực hiện h nh vi phạm tội với lỗi cố ý, thể hiện ý thức xem thường pháp luật v b t ch p hậu quả. Ngo i ra bị cáo c n có nh n th n x u, từng bị To án xét xử về h nh vi t ng trữ trái phép ch t ma tuý, mua bán trái phép ch t ma tuý; bị áp dụng biện pháp xử lý h nh chính đưa v o cơ sở cai ngiện bắt buộc; bị xử phạt h nh chính về h nh vi sử dụng trái phép ch t ma tuý. Vì vậy, cần xử bị cáo mức hình phạt nghiêm, tương xứng với tính ch t, mức độ của h nh vi phạm tội m bị cáo đã thực hiện; cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để có tác dụng giáo dục bị cáo trở th nh công d n tốt, đồng thời nhằm răn đe v ph ng ngừa chung trong xã hội.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo th nh khẩn khai báo, ăn năn hối cải về h nh vi phạm tội của mình; t i sản đã được thu hồi v giao trả cho bị hại; bị cáo có cha tên Nguyễn Văn N l người có công với cách mạng (thương binh 4/4). Là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Căn cứ v o tính ch t, mức độ nguy hiểm cho xã hội của h nh vi phạm tội; nh n th n, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, xét th y mức hình phạt m đại diện Viện Kiểm sát đề nghị áp dụng đối với bị cáo l phù hợp nên Hội đồng xét xử ch p nhận.
Về án phí sơ thẩm: Bị cáo phải chịu theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 136, 260 v 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự.
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn C phạm tội “Cướp giật tài sản”.
2. Về trách nhiệm hình sự: Căn cứ v o điểm d khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn C 03 (ba) năm 09 (chín) tháng tù. Thời hạn ch p h nh hình phạt tù tính từ ngày 02/4/2024.
3. Về án phí sơ thẩm: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ng y 30/12/2016 của UBTVQH quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý v sử dụng án phí v lệ phí T a án, buộc bị cáo Nguyễn Văn C phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên t a được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ng y kể từ ng y tuyên án. Bị hại; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ng y kể từ ng y nhận được bản án hoặc bản được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Dương; - VKSND tỉnh Bình Dương; - Phòng PV 06-Công an tỉnh Bình Dương; - VKSND th nh phố Thủ Dầu Một; - Chi cục THADS TP. Thủ Dầu Một; - Sở Tư Pháp tỉnh Bình Dương; - Người tham gia tố tụng; - Lưu HS, VP | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Ơ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Duy inh |