- Tranh chấp gì? án hình sự — "hà viết châu - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BL…"
- Tòa quyết gì? Về trách nhiệm hình sự:
- Căn cứ chính? Bộ luật hình sự Xử phạt; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 331 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HIỆP HÒA TỈNH BẮC GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 111/2024/HS-ST Ngày 17 tháng 12 năm 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HIỆP HÒA – BẮC GIANG
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Sự
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trương Đức Lâm
Ông Lê Văn Đô
-Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Quyền - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hiệp Hòa tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Hồng Hạnh - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 103/2024/TLST-HS ngày 20 tháng 11 năm 2024; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 110/2024/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 12 năm 2024 đối với bị cáo:
1.Họ và tên: Hà Viết C; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam;
Sinh năm 1971;
Nơi cư trú: thôn C, xã M, huyện H, tỉnh Bắc Giang;
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không;
Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ học vấn: 4/12;
Họ và tên cha: Hà Viết V (đã chết);
Họ và tên mẹ: Ngô Thị N (đã chết);
Vợ: Trần Thị Đ - sinh năm 1970;
Bị cáo có 03 con (con lớn sinh năm 1994, con nhỏ sinh năm 2003);
Gia đình bị cáo có 6 chị em, bị cáo là con thứ 4;
Tiền án: Không;
Tiền sự: Quyết định số 17/2021/QĐ-TA ngày 03/8/2021 của Tòa án nhân dân huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Hà Viết C thời hạn 24 tháng (chấp hành xong ngày 16/11/2023).
Nhân thân:
- Quyết định số 1956/QĐ-CT ngày 19/12/2000 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh B quyết định đưa vào trường G trong thời hạn 24 tháng (chấp hành xong năm 2003).
- Bản án số 16/2005/HSST ngày 02/6/2005 của Tòa án nhân dân huyện Hiệp Hòa xử phạt Hà Viết C 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (chấp hành xong hình phạt tù ngày 16/6/2006).
- Ngày 05/01/2014, Công an thị xã T, tỉnh Bắc Ninh xử phạt vi phạm hành chính Hà Viết C về hành vi “Trộm cắp tài sản” với hình thức phạt tiền.
- Bản án số 72/2019/HSST ngày 24/10/2019 của Tòa án nhân dân huyện Hiệp Hòa xử phạt Hà Viết C 20 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” (chấp hành xong hình phạt tù ngày 30/01/2021, án phí ngày 10/02/2020).
- Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 27/QĐ-XPHC ngày 12/7/2021 của Công an xã H, huyện H xử phạt H về hành vi “Trộm cắp tài sản” bằng hình thức phạt tiền.
Bị cáo bị tạm giam từ ngày 17/8/2024 đến nay. Hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện H, tỉnh Bắc Giang. (Có mặt tại phiên tòa)
2. Người bị hại:
Ông Hà Viết T, sinh năm 1973 (có mặt)
Nơi cư trú: thôn Châu Lỗ, xã Mai Đình, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
-Anh Vũ Đức D, sinh năm 1980 ( vắng mặt)
Nơi cư trú: thôn Châu Lỗ, xã Mai Đình, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang
4. Người làm chứng:
-Ông Vũ Đức C1, sinh năm 1973 (vắng mặt)
-Anh Hà Viết T1, sinh năm 1996 (vắng mặt)
Đều cư trú: thôn C, xã M, huyện H, tỉnh Bắc Giang
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bị cáo Hà Viết C và Hà Viết T là người cùng thôn C, xã M, huyện H, tỉnh Bắc Giang. Ngày 03/3/2024, anh T được gia đình anh Hà Viết T1 - sinh năm 1996 ở cùng thôn thuê phông bạt, loa đài phục vụ đám cưới của anh T1. Quá trình phục vụ tại đám cưới, giữa anh T với C và anh Hà Viết N1 - sinh năm 1977 (em trai C) đã xảy ra to tiếng cãi nhau vì anh T tắt loa khi anh N1 đang hát karaoke. Đến khoảng 15 giờ 30 phút ngày 04/3/2024, sau khi gia đình anh T1 đón dâu xong, anh T đang thu dọn đồ đạc thì C đến và bảo anh T ra ngoài để nói chuyện, anh T đồng ý. Anh T lấy 01 chiếc gậy bằng kim loại, bên ngoài bọc cao su màu đen, đầu kim loại buộc dây màu xanh đựng trong hộp đồ cá nhân, cài vào cạp quần phía trước rồi đi ra ngoài nói chuyện với C. Tại khu vực trước cửa rạp đám cưới nhà anh T1; C và anh T xảy ra xô xát, cãi chửi nhau. C rút từ trong người ra 01 con dao bằng kim loại dài 29cm, lưỡi dao có mũi nhọn, bản rộng lưỡi dao 4,1cm, chuôi bằng nhựa màu đỏ, đứng đối diện anh T, đâm về phía anh T. Thấy vậy, anh T lùi lại phía sau để tránh nhưng vẫn trúng vào vùng bụng. Lúc này, anh T rút gậy từ trong người ra, tay phải cầm gậy lao vào vụt C, trúng vào vùng đầu của C làm C ngã ngồi xuống đất rồi tiếp tục dùng gậy vụt trúng vào phần người bên trái của C. Thấy anh T và C xô sát đánh nhau, anh Vũ Đức D - sinh năm 1980 trú tại thôn C, xã M, huyện H chạy vào can ngăn, ôm anh T đẩy ra nhưng C đã đứng dậy, tiếp tục cầm dao lao vào đâm trúng vào vùng ngực bên phải của anh T đồng thời gây rách ống tay áo và lòng bàn tay trái của anh D. Thời điểm này mọi người chạy vào can ngăn thì anh T cầm gậy bỏ chạy về phía nhà anh Vũ Đức C1 - sinh năm 1973 ở cùng thôn và được anh C1 chạy ra đỡ anh T vào nhà. C chạy đến đứng ở bên ngoài đường ném dao về phía anh C1 nhưng không trúng. Sau đó mọi người vào can ngăn đưa C đến Trạm y tế xã M sơ cứu rồi chuyển đến Trung tâm Y tế huyện H điều trị. Riêng anh T được đưa đi cấp cứu và điều trị tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh B.
Sau khi sự việc xảy ra, Công an xã M, huyện H đã tiến hành kiểm tra, xác định hiện trường. Kết quả thu giữ: tại vị trí dưới hòm tôn đặt trong hiên nhà anh C1 01 con dao dài 29cm, lưỡi dao bằng kim loại có mũi nhọn, một lưỡi sắc, bản rộng lưỡi dao là 4,1cm, chuôi bằng nhựa màu đỏ (do anh C1 cất vào khi C ném dao về phía anh T) và tại vị trí góc nhà, giáp cửa chính của nhà anh C1 01 chiếc gậy bằng kim loại hình trụ dài 34,2cm, bên ngoài bọc cao su màu đen, đầu kim loại buộc dây màu xanh dài 45cm là của T. Trên con dao và chiếc gậy nêu trên đều bám dính chất màu nâu đỏ, nghi máu.
Ngày 06/3/2024, Công an xã M đã chuyển toàn bộ hồ sơ vụ việc cùng vật chứng đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H để giải quyết theo thẩm quyền.
Bệnh viện Đa khoa tỉnh B xác định: anh Hà Viết T có các thương tích sau: 01 vết thương thành ngực phổi kích thước 6cm, 01 vết thương vùng bụng kích thước 2cm, bờ gọn rộng, bụng mềm, tứ chi không biến dạng, chỉ định mổ ngực cấp cứu và phẫu thuật khâu vết thương vùng bụng.
Trung tâm y tế huyện H xác định: H có thương tích: vùng đầu phần chẩm bên trái có vết thương dài (6x1)cm đã khâu, ngoài ra không có thương tích hay bầm tím nào trên da.
Tại Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 64/KLTTCT-PYQG ngày 19/4/2024 của V1 kết luận: Sẹo vùng ngực phải kích thước trung bình; sẹo dẫn lưu phía trên sẹo vùng ngực kích thước trung bình; sẹo dẫn lưu phía trên sẹo vùng ngực kích thước nhỏ; sẹo vùng bụng trên rốn kích thước trung bình; 02 vết biến đổi nhiễm sắc tố da trên và dưới vết dẫn lưu; vết thương thấu phổi gây tràn khí, tràn máu màng phổi đã phẫu thuật; tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Hà Viết T tại thời điểm giám định là 15%; vết thương ngực phải do vật sắc nhọn tác động trực tiếp từ trước ra sau, từ phải sang trái gây nên; vết thương vùng bụng do vật có cạnh sắc gây nên, không xác định được chiều hướng; con dao gửi giám định gây ra được vết thương ngực phải và vết thương vùng bụng; vật hình trụ gửi giám định không gây ra được thương tích trên.
Tại Kết luận giám định ADN số 229/24/KLGĐADN-PYQG ngày 11/4/2024 của V1 kết luận: Thử định tính phát hiện nhanh vết máu người trên con dao nhọn và chiếc gậy bằng kim loại có bọc cao su màu đen: Dương tính; ADN thu từ con dao nhọn và chiếc gậy bằng kim loại có bọc cao su màu đen trùng khớp hoàn toàn với ADN của Hà Viết T trên tất cả các locus STR đã so sánh.
Tại Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 2675/24/KLTTCT-TTPY ngày 17/10/2024 và Kết luận giám định số 2675B/24/KLTTCT-TTPY ngày 18/10/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh B kết luận: Thương tích vết sẹo vùng chẩm trái kích thước trung bình + Chấn động não + Điện não đồ: Hoạt động không có sóng bệnh lý: 4%; tỷ lệ tổn thương cơ thể của Hà Viết C tại thời điểm giám định là 4%; thương tích do vật tày gây nên; chiếc gậy gửi giám định là vật gây được thương tích cho Hà Viết C.
Trong giai đoạn điều tra, Hà Viết C trình bày: Khi từ nhà anh T1 ra bên ngoài, anh T dùng gậy vụt trúng vào vùng vai trái của C. Do bị đánh nên C chạy vào trong nhà anh T1, lấy dao ở khu vực giáp tường trước cửa nhà anh T1, quay lại đứng đối diện anh T, anh T tiếp tục dùng gậy đập vào vùng đầu của C, C dùng dao đâm vào vùng ngực của anh T. C không mang sẵn dao từ trước cũng như không gây thương tích ở vùng bụng cho anh T. Cơ quan điều tra tiến hành đối chất lời khai nhưng cả anh T và C đều giữ nguyên lời khai. Căn cứ lời khai của người làm chứng là anh Hà Viết T1 và anh Vũ Đức D đều thấy C rút dao từ trong người ra trước, đâm vào vùng bụng và vùng ngực của anh T, phù hợp với lời khai cũng như đặc điểm thương tích trên cơ thể của anh T.
Đối với thương tích của Hà Viết C: Kết luận giám định xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể của C tại thời điểm giám định là 4%; thương tích do anh T dùng gậy gây nên. Tuy nhiên, C có đơn không đề nghị xem xét, xử lý đối với anh Hà Viết T. Ngày 03/11/2024, Trưởng Công an huyện H đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với T về hành vi “Cố ý gây thương tích cho người khác hoặc tổn hại sức khỏe cho người khác nhưng không bị truy cứu trách nhiệm hình sự” bằng hình thức phạt tiền.
*Tại Bản cáo trạng số 106/CT-VKS ngày 19/11/2024, của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hiệp Hòa truy tố bị cáo Hà Viết C về tội “ Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ -khoản 2 ( điểm a -khoản 1) - Điều 134 -Bộ luật Hình sự.
*Tại phiên tòa:
Bị cáo Hà Viết C thừa nhận về hành vi phạm tội của mình như lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra có trong hồ sơ vụ án. Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là sai, bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
Người bị hại anh Hà Viết T xin HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và không đề nghị gì về bồi thường dân sự.
*Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hiệp Hòa trình bày lời luận tội và đề nghị Hội đồng xét xử:
-Về trách nhiệm hình sự:
Áp dụng: Căn cứ điểm đ- khoản 2 (điểm a khoản 1) - Điều 134, điểm s - khoản 1, khoản 2 -Điều 51, Điều 38 - Bộ luật hình sự
Xử phạt bị cáo từ 02 năm 10 tháng đến 03 năm tù giam về tội "Cố ý gây thương tích”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giam ngày 17/8/2024.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 - Điều 47 của Bộ luật hình sự; khoản 3-Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy 01 con dao dài 29cm, lưỡi dao bằng kim loại có mũi nhọn, một lưỡi sắc, bản rộng lưỡi dao là 4,1cm, chuôi bằng nhựa màu đỏ và 01 chiếc gậy bằng kim loại hình trụ dài 34,2cm, bên ngoài bọc cao su màu đen có ghi “1969”, đầu kim loại buộc dây màu xanh dài 45cm. Đều được niêm phong trong 01 (một) thùng bìa cát tông, là công cụ, phương tiện dùng vào việc thực hiện hành vi phạm tội.
- Về trách nhiệm dân sự: Trong giai đoạn điều tra, anh Hà Viết T không yêu cầu đề nghị gì về bồi thường dân sự, nên HĐXX không xem xét, giải quyết.
- Về án phí: Bị cáo Hà Viết C phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và quy định tại Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện H, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Hiệp Hòa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về tội danh: Lời khai của bị cáo Hà Viết C tại phiên tòa hôm nay phù hợp với diễn biến hành vi phạm tội, lời khai của người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, kết luận giám định thương tật và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ, Hội đồng xét xử xét thấy đã có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 16 giờ ngày 04/3/2024, tại thôn C, xã M, huyện H; H và anh Hà Viết T đã xảy ra xô xát đánh nhau, Hà Viết C dùng 01 con dao dài 29cm, lưỡi dao bằng kim loại có mũi nhọn, một lưỡi sắc, bản rộng lưỡi dao là 4,1cm, chuôi bằng nhựa màu đỏ đâm 01 nhát trúng vùng bụng và 01 nhát trúng vào vùng ngực của anh Hà Viết T. Hậu quả, anh T bị tổn hại 15% sức khỏe.
Bị cáo Hà Viết C là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Hành vi của bị cáo thực hiện với anh Hà Viết T là cố ý, thương tích mà bị cáo gây ra cho anh T là 15%, bị cáo dùng hung khí nguy hiểm là dao nhọn đâm vào vùng bụng và vùng ngực gây thương tích cho anh T. Với hành vi nêu trên của bị cáo Hà Viết C đã đủ yếu tố cấu thành tội "Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 - Điều 134 - Bộ luật hình sự. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang truy tố bị cáo theo tội danh và điều khoản trên là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Xét về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội thấy:
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Xuất phát từ việc có mâu thuẫn cá nhân mà bị cáo dùng dao đâm 01 nhát trúng vùng bụng và 01 nhát trúng vào vùng ngực của anh Hà Viết T. Hậu quả, anh T bị tổn hại 15% sức khỏe. Hành vi của bị cáo là sự coi thường tính mạng, sức khỏe của người khác, coi thường chấp hành pháp luật và gây mất trật tự tại địa phương. Hành vi nêu trên của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến quyền bảo vệ sức khỏe của công dân được pháp luật bảo vệ. Vì vậy, cần có hình phạt phù hợp để nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung đối với bị cáo.
Xét về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thấy: Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử, bị cáo Hà Viết C đã thành khẩn khai báo hành vi phạm tội của mình, ăn năn hối cải. Tại phiên tòa người bị hại xin xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, nên cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 - Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo, khi lượng hình xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo thì thấy:
Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu, do trước đó đã bị xử phạt về hành vi “ Trộm cắp tài sản” và “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Bị cáo bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Hà Viết C thời hạn 24 tháng (chấp hành xong ngày 16/11/2023).
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định Điều 52 của Bộ luật hình sự.
Đối với thương tích của H: Kết luận giám định xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể của C tại thời điểm giám định là 4%; thương tích do anh T dùng gậy gây nên. Tuy nhiên, C có đơn không đề nghị xem xét, xử lý đối với anh Hà Viết T. Ngày 03/11/2024, Trưởng Công an huyện H đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với T về hành vi “Cố ý gây thương tích cho người khác hoặc tổn hại sức khỏe cho người khác nhưng không bị truy cứu trách nhiệm hình sự” bằng hình thức phạt tiền.
Đối với thương tích của anh Vũ Đức D: Quá trình điều tra, anh D không đề nghị giám định thương tích, không yêu cầu bồi thường thiệt hại và đề nghị không xem xét, xử lý đối với C. Do vậy, Cơ quan điều tra không xem xét, xử lý.
Về vật chứng của vụ án: Áp dụng điểm a khoản 1 - Điều 47 của Bộ luật hình sự; khoản 3-Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy 01 con dao dài 29cm, lưỡi dao bằng kim loại có mũi nhọn, một lưỡi sắc, bản rộng lưỡi dao là 4,1cm, chuôi bằng nhựa màu đỏ và 01 chiếc gậy bằng kim loại hình trụ dài 34,2cm, bên ngoài bọc cao su màu đen có ghi “1969”, đầu kim loại buộc dây màu xanh dài 45cm. Đều được niêm phong trong 01 (một) thùng bìa cát tông, là công cụ, phương tiện dùng vào việc thực hiện hành vi phạm tội.
Về trách nhiệm dân sự: Trong giai đoạn điều tra, anh Hà Viết T không yêu cầu đề nghị gì về bồi thường dân sự, nên HĐXX không xem xét, giải quyết.
Về án phí: Bị cáo Hà Viết C phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và quy định tại Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo; Người bị hại; Người có quyền lợi nghĩa vụ, liên quan có quyền kháng cáo theo Điều 331; khoản 1 Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
1.Về trách nhiệm hình sự:
Căn cứ điểm đ, khoản 2 (điểm a khoản 1) - Điều 134, điểm s - khoản 1, khoản 2- Điều 51, Điều 38 - Bộ luật hình sự
Xử phạt bị cáo Hà Viết C 02 (hai) năm 10 (mười) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giam ngày 17/8/2024.
2.Về án phí: Bị cáo Hà Viết C phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và quy định tại Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016.
3.Về trách nhiệm dân sự: Không có;
4.Về vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 - Điều 47 của Bộ luật hình sự; khoản 3-Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy 01 con dao dài 29cm, lưỡi dao bằng kim loại có mũi nhọn, một lưỡi sắc, bản rộng lưỡi dao là 4,1cm, chuôi bằng nhựa màu đỏ và 01 chiếc gậy bằng kim loại hình trụ dài 34,2cm, bên ngoài bọc cao su màu đen có ghi “1969”, đầu kim loại buộc dây màu xanh dài 45cm. Đều được niêm phong trong 01 (một) thùng bìa cát tông, là công cụ, phương tiện dùng vào việc thực hiện hành vi phạm tội.
5.Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Khoản 1 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Bị cáo; Người bị hại có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được (hoặc niêm yết) bản án.
6. Về hướng dẫn thi hành án: Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cường chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, 7a,7b và 9 của Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự. Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- VKSND tỉnh Bắc Giang;
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- Sở Tư pháp tỉnh Bắc Giang;
- VKSND huyện Hiệp Hòa;
- Công an huyện Hiệp Hòa;
- Chi cục THADS huyện Hiệp Hòa;
- UBND xã Mai Đình; -Người tham gia tố tụng;
- Lưu hồ sơ, văn phòng.
Nguyễn Thị Sự
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Bắc Giang; - Sở Tư pháp tỉnh Bắc Giang; - VKSND huyện Hiệp Hòa; - Công an huyện Hiệp Hòa; - Chi cục THADS huyện Hiệp Hòa; - Trại tạm giam; - Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; - Lưu hồ sơ, văn phòng. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Sự |