vanban.org

Bản án 111/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị Ngọc Tr đối với anh Nguyễn Xuân T.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị Ngọc Tr được ly hôn với anh Nguyễn Xuân T. Về con chung: Giao chị Tr trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung Nguyễn Ngọc Tuệ Nhi sinh ngày 26/7/2022 cho đến khi con chung thành niên (đủ 18 tuổi) hoặc khi có quyết định thay đổi khác. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "tranh chấp ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị Ngọc Tr đối với anh Nguyễn Xuân T.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN QUỐC OAI
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 111/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 23/5/2024
V/v: tranh chấp ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỐC OAI – THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đào Thị Thúy

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Viên.

Bà Nguyễn Thị Hoa.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huyền Lê – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quốc Oai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quốc Oai tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Cúc - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quốc Oai, Thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 68/2024/TLST-HNGĐ ngày 22 tháng 3 năm 2024 về tranh chấp xin ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 18/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 24 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Lê Thị Ngọc Tr, sinh năm 2002.

Nơi đăng ký thường trú: 29/45 Phú Thọ 3, phường Phú Sơn, thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa. Nơi ở: Khu phố Phố Cát, thị trấn Vân Du, huyện T2, tỉnh Thanh Hóa. Có mặt.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Xuân T, sinh năm 2000.

Nơi đăng ký thường trú: Đội 3, thôn Đông Hạ, xã Đ, huyện Quốc Oai, Thành phố Hà Nội. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và các biên bản làm việc, nguyên đơn là chị Lê Thị Ngọc Tr trình bày như sau:

Chị và anh Nguyễn Xuân T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 07 tháng 10 năm 2021 tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện Quốc Oai, Thành phố Hà Nội.

Quá trình chung sống hai vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn thậm chí còn đánh cãi, chửi nhau. Gia đình hai bên đều biết việc vợ chồng chị đánh chửi nhau. Nguyên nhân dẫn đến vợ chồng mâu thuẫn do anh T không chịu tu chí làm một công việc ổn định, cứ thích làm các việc liên quan đến lô đề cờ bạc. Khi chị xin đi làm thì anh T lại ghen tuông vô cớ. Do mâu thuẫn như vậy nên khoảng đầu năm 2023 chị đưa con về ở cùng với mẹ đẻ tại thị trấn Vân Du, huyện T2, tỉnh Thanh Hóa. Anh T có theo vào xin lỗi và ở lại cùng vợ con. Tuy nhiên, thời gian hai vợ chồng ở tại nhà mẹ đẻ chị thì vẫn thường xuyên xảy ra chuyện đánh cãi, chửi nhau cũng chỉ vì lí do trên. Chị đã nói chuyện với anh T nếu cứ tiếp tục cuộc sống như vậy thì vợ chồng nên giải thoát cho nhau và anh T bỏ về nhà bố mẹ đẻ từ tháng 8/2023, anh chị chính thức ly thân. Thời gian vừa qua anh T còn thường xuyên nhắn tin chửi bới đe dọa và bôi nhọ danh dự, nhân phẩm của chị trên mạng xã hội. Nay chị xác định không còn tình cảm với anh T nên đề nghị Tòa án xem xét chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị.

Về con chung: Chị Tr xác nhận vợ chồng có một con chung là Nguyễn Ngọc Tuệ Nhi sinh ngày 26/7/2022. Từ trước đến nay chị vẫn là người chăm sóc, nuôi dưỡng con chung nên khi ly hôn, chị có nguyện vọng được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung và không yêu cầu anh T có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và công nợ chung: chị xác định vợ chồng không có tài sản chung và công nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn là anh Nguyễn Xuân T có ý kiến như sau:

Về điều kiện, hoàn cảnh kết hôn giữa anh và chị Lê Thị Ngọc Tr đúng như chị Tr trình bày. Quá trình chung sống vợ chồng anh xảy ra nhiều mâu thuẫn do bất đồng trong cách sống. Chị Tr vào mạng xã hội hủy kết bạn của anh với những người bạn là nữ. Khi anh đi làm về mệt mỏi, muốn chơi điện tử để thư giãn mà chơi không mất tiền thì chị Tr cũng tỏ thái độ không hài lòng. Anh cố nhịn thì chị Tr lại nghĩ anh sợ nên càng làm quá. Đầu năm 2023 anh vào Thanh Hóa ở cùng với vợ con tại nhà mẹ đẻ chị Tr vì chị Tr muốn vợ chồng vào đó sinh sống để anh tránh xa bạn bè của mình. Đến khoảng tháng 8/2023 thì anh quay về nhà ở với bố mẹ đẻ mình vì mỗi lần vợ chồng đánh cãi, chửi nhau thì mẹ con chị Tr lại đuổi anh đi. Anh cũng xác định vợ chồng có quá nhiều mâu thuẫn và không thể đoàn tụ nhưng anh không đồng ý ly hôn, kệ chị Tr muốn làm gì thì làm. Anh xin được vắng mặt, không đến Tòa án làm việc.

Tại phiên tòa:

- Chị Tr vẫn giữ nguyên toàn bộ yêu cầu khởi kiện như đã trình bày.

- Anh T vắng mặt nên không có ý kiến.

- Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

+ Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, đương sự trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã theo đúng quy định của pháp luật.

+ Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 227; Điều 228; Điều 147; Điều 271 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Các Điều 51, 56, 81, 82, 83, và 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Đề nghị: Chấp nhận đơn khởi kiện về việc xin ly hôn của chị Lê Thị Ngọc Tr. Chị Lê Thị Ngọc Tr được ly hôn với anh Nguyễn Xuân T. Giao chị Tr trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung Nguyễn Ngọc Tuệ Nhi sinh ngày 26/7/2022 cho đến khi con chung thành niên (đủ 18 tuổi) hoặc khi có quyết định thay đổi khác. Anh T được quyền thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được cản trở. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng cho anh T đến khi con chung thành niên (đủ 18 tuổi) hoặc khi có quyết định thay đổi khác. Về tài sản, công sức chung và công nợ chung không có, không yêu cầu giải quyết nên không xem xét. Chị Tr phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định. Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

. Về thủ tục tố tụng:

- Chị Lê Thị Ngọc Tr khởi kiện xin ly hôn với anh Nguyễn Xuân T có đăng kí hộ khẩu thường trú tại đội 3, thôn Đông Hạ, xã Đ, huyện Quốc Oai, Thành phố Hà Nội. Tòa án nhân dân huyện Quốc Oai thụ lý giải quyết yêu cầu khởi kiện của chị Tr là đúng quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

- Anh Nguyễn Xuân T xin được vắng mặt nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử theo quy định tại khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

. Về nội dung:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị Ngọc Tr và anh Nguyễn Xuân T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 07 tháng 10 năm 2021 tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện Quốc Oai, Thành phố Hà Nội. Xác định đây là hôn nhân hợp pháp.

Chị Tr và anh T đều xác nhận quá trình chung sống vợ chồng thường xuyên phát sinh mâu thuẫn, đánh cãi chửi nhau. Đến nay anh chị đều xác định vợ chồng không thể đoàn tụ được nhưng anh T không đồng ý ly hôn. Tòa án đã xác minh đối với hai bên gia đình đều cho thấy lời trình bày của chị Tr, anh T về tình trạng mâu thuẫn trong hôn nhân của anh chị là đúng. Nguyên nhân mâu thuẫn do anh chị quá bất đồng về cách sống. Vợ chồng còn trẻ tuổi nên không có sự chia sẻ, cảm thông trong cuộc sống. Chị Tr còn cung cấp cho Tòa án các tin nhắn chửi bới, lăng mạ lẫn nhau giữa hai anh chị. Như vậy, có thể thấy trên thực tế quan hệ vợ chồng của hai anh chị đã rất căng thẳng, không tôn trọng nhau, không còn tình cảm với nhau, mục đích hôn nhân không đạt được nên ly hôn là cần thiết. Do đó, căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Tr đối với anh T.

- Về con chung: Chị Tr và anh T xác nhận vợ chồng có một con chung Nguyễn Ngọc Tuệ Nhi sinh ngày 26/7/2022. Cả chị Tr và anh T đều có nguyện vọng được nuôi con khi vợ chồng ly hôn. Tuy nhiên, cháu Nguyễn Ngọc Tuệ Nhi chưa đủ 36 tháng tuổi và hiện nay anh T đang đi cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy số 1 Hà Nội với thời hạn 12 (Mười hai) tháng theo Quyết định áp dụng biện pháp hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc số 17/QĐ-TA ngày 10/5/2024 của Tòa án nhân dân huyện Quốc Oai, Thành phố Hà Nội. Do đó, căn cứ quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 Hội đồng xét xử giao chị Tr trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung đến khi con chung thành niên (đủ 18 tuổi) hoặc khi có quyết định thay đổi khác. Chị Tr không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con và hiện tại anh T không có thu nhập để cấp dưỡng nên tạm hoãn nghĩa nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho anh T đến khi con chung thành niên (đủ 18 tuổi) hoặc khi có quyết định thay đổi khác.

- Về tài sản chung và công nợ chung: Chị Tr và anh T cùng xác nhận vợ chồng không có tài sản chung và công nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

. Về án phí: Chị Tr phải chịu 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm.

. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 228; Điều 271 và 273 Bộ luật tố tụng dân sự.

Căn cứ vào các Điều 51, 56, 58, 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Căn cứ vào khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị Ngọc Tr đối với anh Nguyễn Xuân T.

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị Ngọc Tr được ly hôn với anh Nguyễn Xuân T.

2. Về con chung: Giao chị Tr trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung Nguyễn Ngọc Tuệ Nhi sinh ngày 26/7/2022 cho đến khi con chung thành niên (đủ 18 tuổi) hoặc khi có quyết định thay đổi khác.

Anh T có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung mà không ai được cản trở.

Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho anh T đến khi con chung thành niên (đủ 18 tuổi) hoặc khi có quyết định thay đổi khác.

3. Về tài sản chung và công nợ chung: không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.

4. Về án phí: Chị Lê Thị Ngọc Tr phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0019941 ngày 22/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội.

5. Về quyền kháng cáo: Chị Tr có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh T có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết theo quy định. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- VKSND huyện Quốc Oai;

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

- Chi cục THADS huyện Quốc Oai;

- Các đương sự;

- UBND xã Đ, huyện Quốc Oai, Hà Nội (nơi đăng kí kết hôn);

- Lưu:hồ sơ vụ án; VPTA;

Đào Thị Thúy

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Các Hội thẩm nhân dân

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Hướng dẫn sử dụng mẫu số 52-DS:

Mẫu bản án sơ thẩm kèm theo bản hướng dẫn này được soạn thảo theo tinh thần quy định tại Điều 266 của Bộ luật tố tụng dân sự. Mẫu bản án sơ thẩm kèm theo hướng dẫn này được sử dụng cho tất cả các Toà án khi xét xử sơ thẩm các tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động.

Sau đây là những hướng dẫn cụ thể về việc sử dụng mẫu bản án sơ thẩm kèm theo:

(1) Nếu là Toà án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh thì ghi rõ tên Toà án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nào (ví dụ: Toà án nhân dân huyện Từ Liêm, thành phố Hà Nội); nếu là Toà án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thì ghi Toà án nhân dân tỉnh (thành phố) đó (ví dụ: Toà án nhân dân tỉnh Hà Nam).

(2) Ô thứ nhất ghi số bản án, ô thứ hai ghi năm ra bản án, ô thứ ba ghi ký hiệu loại bản án (ví dụ: Nếu là bản án giải quyết tranh chấp về dân sự năm 2017 có số 100 thì ghi: “Số:100/2017/DS-ST”; nếu là bản án giải quyết tranh chấp về hôn nhân và gia đình năm 2017 có số 108 thì ghi: “Số:108/2017/HNGĐ-ST”; nếu là bản án giải quyết tranh chấp về kinh doanh, thương mại năm 2017 có số 110 thì ghi: “Số:110/2017/KDTM-ST”; nếu là bản án giải quyết tranh chấp về lao động năm 2017 có số 115 thì ghi: “Số:115/2017/LĐ-ST”).

(3) Ghi ngày, tháng, năm tuyên án không phân biệt vụ án được xét xử sơ thẩm và kết thúc trong một ngày hay được xét xử sơ thẩm trong nhiều ngày.

(4) Ghi quan hệ tranh chấp mà Tòa án giải quyết: Cần xác định tranh chấp mà Tòa án thụ lý giải quyết được quy định tại Điều, khoản nào của Bộ luật tố tụng dân sự, để ghi vào phần trích yếu của bản án (ví dụ: Tranh chấp mà Tòa án thụ lý giải quyết là tranh chấp về quốc tịch Việt Nam giữa cá nhân với cá nhân được quy định tại khoản 1 Điều 26 của Bộ luật tố tụng dân sự thì ghi: “tranh chấp về quốc tịch Việt Nam giữa cá nhân với cá nhân”).

(5) Ghi như hướng dẫn tại điểm (1).

(6) Nếu Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm ba người, thì chỉ ghi họ tên của Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà, bỏ dòng “Thẩm phán...”, đối với Hội thẩm nhân dân chỉ ghi họ tên của hai Hội thẩm nhân dân; nếu Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có năm người, thì ghi họ tên của Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà, họ tên của Thẩm phán, họ tên của cả ba Hội thẩm nhân dân. Cần chú ý là không ghi chức vụ của Thẩm phán; chức vụ, nghề nghiệp của Hội thẩm nhân dân.

(7) Ghi họ tên của Thư ký phiên tòa và ghi rõ là Thư ký Tòa án hoặc Thẩm tra viên của Tòa án nào như hướng dẫn tại điểm (1).

(8) Nếu có Viện kiểm sát nhân dân tham gia phiên toà thì ghi như hướng dẫn tại điểm (1) song đổi các chữ “Toà án nhân dân” thành “Viện kiểm sát nhân dân”.

(9) T hợp vụ án được xét xử và kết thúc trong một ngày thì bỏ hai chữ “Trong các” (ví dụ: Ngày 15 tháng 7 năm 2017). T hợp vụ án được xét xử trong hai ngày thì ghi “Trong các ngày” (ví dụ: Trong các ngày 02, 03 tháng 3 năm 2017); nếu từ ba ngày trở lên mà liền nhau thì ghi: “Từ ngày đến ngày” (ví dụ: Từ ngày 06 đến ngày 10 tháng 3 năm 2017); nếu từ ba ngày trở lên mà không liền nhau thì ghi trong các ngày (ví dụ: Trong các ngày 07, 08 và ngày 15 tháng 3 năm 2017); nếu khác tháng mà liền nhau thì ghi từ ngày... tháng... đến ngày... tháng... (ví dụ: Từ ngày 31 tháng 05 đến ngày 02 tháng 6 năm 2017); nếu không liền nhau thì ghi các ngày của từng tháng (Ví dụ: Trong các ngày 30, 31 tháng 3 và các ngày 04, 05 tháng 4 năm 2017).

(10) Nếu xét xử kín thì thay cụm từ “công khai” bằng từ “kín”.

(11) Ô thứ nhất ghi số thụ lý, ô thứ hai ghi năm thụ lý và ô thứ ba nếu là tranh chấp về dân sự thì ghi “DS”; nếu là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thì ghi “HNGĐ”; nếu là tranh chấp về kinh doanh, thương mại thì ghi “KDTM”; nếu là tranh chấp về lao động thì ghi “LĐ” (ví dụ: số 18/2017/TLST-HNGĐ).

(12) Ghi như hướng dẫn tại điểm (4).

(13) Nguyên đơn là cá nhân thì ghi họ tên, địa chỉ cư trú (nếu là người chưa thành niên thì sau họ tên ghi ngày, tháng, năm sinh và họ tên người đại diện hợp pháp của người chưa thành niên). Nguyên đơn là cơ quan, tổ chức thì ghi tên cơ quan, tổ chức và địa chỉ của cơ quan, tổ chức đó.

(14) Chỉ ghi khi có người đại diện hợp pháp của nguyên đơn và ghi họ tên, địa chỉ cư trú; ghi rõ là người đại diện theo pháp luật hay là người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn; nếu là người đại diện theo pháp luật thì cần ghi chú trong ngoặc đơn quan hệ giữa người đó với nguyên đơn; nếu là người đại diện theo uỷ quyền thì cần ghi chú trong ngoặc đơn: “văn bản uỷ quyền ngày... tháng... năm...”.

Ví dụ 1: Ông Nguyễn Văn A trú tại... là người đại diện theo pháp luật của nguyên đơn (Giám đốc Công ty TNHH Thắng Lợi).

Ví dụ 2: Bà Lê Thị B trú tại... là người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn (Văn bản uỷ quyền ngày... tháng... năm...).

(15) Chỉ ghi khi có người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn. Ghi họ tên, địa chỉ cư trú (nếu là Luật sư thì ghi là Luật sư của Văn phòng luật sư nào và thuộc Đoàn luật sư nào); nếu có nhiều nguyên đơn thì ghi cụ thể bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn nào.

(16) và (19) Ghi tương tự như hướng dẫn tại điểm (13).

(17) và (20) Ghi tương tự như hướng dẫn tại điểm (14).

(18) và (21) Ghi tương tự như hướng dẫn tại điểm (15).

(22) Ghi họ tên, địa chỉ cư trú (nếu là người chưa thành niên thì sau họ tên ghi ngày, tháng, năm sinh và họ tên người đại diện hợp pháp của người chưa thành niên).

(23) Ghi họ tên, chức danh, địa chỉ nơi làm việc (nếu không có nơi làm việc thì ghi địa chỉ cư trú).

(24) Ghi họ tên, địa chỉ nơi làm việc (nếu không có nơi làm việc thì ghi địa chỉ cư trú).

(25) Trong phần này ghi rõ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, của cơ quan, tổ chức, cá nhân; yêu cầu phản tố, đề nghị của bị đơn; yêu cầu độc lập, đề nghị của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; ý kiến của Viện kiểm sát; ghi ngắn gọn, đầy đủ các tài liệu, chứng cứ, tình tiết của vụ án; ghi rõ các tình tiết, sự kiện không phải chứng minh, các tình tiết mà các bên đã thống nhất, không thống nhất; đối với các tình tiết của vụ án mà các bên không thống nhất thì phải ghi rõ lý lẽ, lập luận của từng bên đương sự.

(26) Ghi nhận định của Tòa án về những vấn đề cần phải giải quyết trong vụ án (về áp dụng pháp luật tố tụng và pháp luật nội dung). Tòa án phải căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa để phân tích, đánh giá, nhận định đầy đủ, khách quan về chứng cứ và những tình tiết của vụ án; phân tích, viện dẫn những căn cứ pháp luật, án lệ (nếu có) để chấp nhận hoặc không chấp nhận yêu cầu, đề nghị của đương sự; yêu cầu, đề nghị của cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác (nếu có); yêu cầu, đề nghị của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự; ý kiến của đại diện Viện kiểm sát (nếu có); giải quyết các vấn đề khác có liên quan. Nếu vụ án thuộc T hợp quy định tại khoản 2 Điều 4 của Bộ luật tố tụng dân sự thì tùy từng T hợp mà Tòa án phân tích, lập luận về việc áp dụng tập quán, tương tự pháp luật, nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự, án lệ hoặc lẽ công bằng.

Trong phần này, các đoạn văn được đánh số thứ tự trong dấu [ ].

(27) Tùy từng T hợp mà ghi rõ các căn cứ pháp luật để ra quyết định.

(28) Ghi các quyết định của Tòa án về từng vấn đề phải giải quyết trong vụ án, về áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, án phí, chi phí tố tụng và quyền kháng cáo đối với bản án; T hợp có quyết định phải thi hành ngay thì phải ghi rõ quyết định đó. Đối với T hợp xét xử sơ thẩm lại vụ án mà bản án, quyết định đã bị hủy một phần hoặc toàn bộ theo quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm thì ghi vấn đề tài sản, nghĩa vụ đã được thi hành (nếu có) theo bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật nhưng bị hủy; T hợp có quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 482 của Bộ luật tố tụng dân sự thì phải ghi rõ nội dung về quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án, thời hiệu thi hành án.

(29) Phần cuối cùng của bản án, đối với bản án được thông qua tại phòng nghị án thì phải có đầy đủ chữ ký, ghi rõ họ tên của các thành viên Hội đồng xét xử và đóng dấu (bản án này phải lưu vào hồ sơ vụ án); đối với bản án để gửi cho các đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện và Viện kiểm sát thì ghi như sau:

Cỡ chữ