- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "tranh chấp ly hôn"
- Tòa quyết gì? Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
- Căn cứ chính? Điều 11 Luật Cư trú; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH AN GIANG Bản án số: 111/2024/HNGĐ-ST Ngày: 03 - 4 - 2024 V/v “Ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Phước Sang
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Lê Văn Phụng
2. Ông Trịnh Văn Bé
- Thư ký phiên tòa: Ông Hồ Nhựt Huy - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới tham gia phiên tòa: Bà Đoàn Thụy Thùy Trang - Kiểm sát viên
Ngày 03 tháng 4 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 23/2024/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 01 năm 2024 về “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 110/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 26 tháng 02 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 129/2024/QĐST-HNGĐ ngày 14 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang, giữa:
1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Trúc L, sinh năm 2000;
Địa chỉ: ấp P, xã K, huyện C, tỉnh An Giang; địa chỉ liên lạc: ấp L, xã L, huyện C, tỉnh An Giang (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
2. Bị đơn: Anh Trần Đặng H, sinh năm 1989
Địa chỉ: ấp P, xã K, huyện C, tỉnh An Giang (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo Đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Trúc L trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị L và anh H do tự tìm hiểu và yêu thương nhau nên tự nguyện tiến đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã K, huyện C, tỉnh An Giang. Sau khi kết hôn, chị L và anh H chung sống tại ấp P, xã K, huyện C, tỉnh An Giang. Vợ chồng sống hạnh phúc đến khoảng tháng 11/2021 thì phát sinh mâu thuẫn do anh H không quan tâm đến gia đình và không đi làm, vợ chồng thường xuyên cãi vã do bất đồng quan điểm sống và vấn đề kinh tế, nói chuyện không hợp nhau. Đến khoảng tháng 6/2023, mâu thuẫn vợ chồng trở nên trầm trọng nên vợ chồng sống ly thân cho đến nay. Trong thời gian sống ly thân, gia đình hai bên có tạo điều kiện để vợ chồng hàn gắn tình cảm nhưng không thành; bản thân chị L có cho cơ hội để hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng do anh H không thay đổi tính tình nên không hàn gắn được. Do tình cảm vợ chồng không còn nên chị L yêu cầu được ly hôn với anh H.
Về con chung: Chị L xác định vợ chồng không có con chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Chứng cứ chứng minh cho yêu cầu khởi kiện: Giấy chứng nhận kết hôn.
Anh Trần Đặng H vắng mặt nên không ghi nhận được ý kiến.
Tại phiên tòa,
Chị Nguyễn Thị Trúc L có đơn đề nghị xét xử vắng mặt và vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.
Anh Trần Đặng H vắng mặt nên không ghi nhận được ý kiến.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm:
Việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án dân sự ở giai đoạn sơ thẩm: Người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng đã làm đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Về nội dung vụ án: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Trúc L. Về quan hệ hôn nhân, chị Nguyễn Thị Trúc L được ly hôn với anh Trần Đặng H. Về con chung, tài sản chung và nợ chung không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đề cập đến.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng:
Theo giấy chứng nhận kết hôn, anh Trần Đặng H có nơi cư trú tại ấp P, xã K, huyện C, tỉnh An Giang. Đồng thời, tại xác nhận thông tin cư trú ngày 02/8/2023, anh Trần Đặng H có cư trú tại ấp P, xã K, huyện C, tỉnh An Giang. Căn cứ Điều 11 Luật Cư trú, Điều 5 và Điều 6 Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Hội đồng xét xử xác định nơi cư trú của anh Trần Đặng H tại ấp P, xã K, huyện C, tỉnh An Giang để giải quyết vụ án theo thủ tục chung.
Chị Nguyễn Thị Trúc L khởi kiện yêu cầu được ly hôn đối với anh Trần Đặng H là tranh chấp về hôn nhân và gia đình. Đồng thời, anh Trần Đặng H (bị đơn) có nơi cư trú tại ấp P, xã K, huyện C, tỉnh An Giang nên Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới thụ lý giải quyết là đúng theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Đối với anh Trần Đặng H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia tố tụng trong vụ án nhưng vắng mặt không có lý do trong quá trình tố tụng tại Tòa án. Tại phiên tòa, chị Nguyễn Thị Trúc L có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; anh Trần Đặng H đã được triệu tập hợp lệ lần thứ 02 để tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ Điều 228 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt chị Nguyễn Thị Trúc L và anh Trần Đặng H.
Về nội dung vụ án:
Đối với quan hệ hôn nhân:
Chị Nguyễn Thị Trúc L cho rằng, chị L và anh H do tự tìm hiểu nên tiến đến hôn nhân vào năm 2019 và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã K, huyện C, tỉnh An Giang. Vợ chồng chung sống đến tháng 11/2021 thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, tính tình không hợp nhau, anh H không quan tâm đến gia đình, không lo đi làm để phụ chị L chăm lo kinh tế cho gia đình. Vợ chồng sống ly thân từ tháng 6/2023 cho đến nay. Trong thời gian vợ chồng sống ly thân, anh H không có thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng; gia đình hai bên có động viên, hàn gắn tình cảm vợ chồng cho chị L và anh H nhưng không hàn gắn được. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nên chị L yêu cầu ly hôn với anh H.
Anh Trần Đặng H đã được tống đạt các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật nhưng không có ý kiến phản đối đối với yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Trúc L.
Xét thấy, chị Nguyễn Thị Trúc L và anh Trần Đặng H kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn theo quy định tại Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình, là hôn nhân hợp pháp nên được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Anh Trần Đặng H đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật nhưng không có ý kiến phản đối đối với yêu cầu khởi kiện của chị L theo quy định tại Điều 91 và Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành hòa giải, hàn gắn tình cảm vợ chồng cho chị L và anh H theo quy định của pháp luật nhưng anh H vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng tại Tòa án nên không hòa giải được, thể hiện anh Trần Đặng H không còn thiện chí níu kéo quan hệ hôn nhân giữa chị L và anh H nên lời trình bày của chị L về nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn và tình trạng hôn nhân giữa chị L và anh H đã lâm vào tình trạng trầm trọng là có cơ sở chấp nhận. Do đó, có căn cứ để xác định hôn nhân giữa chị L và anh H đã lâm vào tình trạng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài, việc chị L yêu cầu ly hôn anh H phù hợp với khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình nên được chấp nhận.
Đối với con chung: Chị Nguyễn Thị Trúc L xác định chị L và anh H không có con chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đó, Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét, trường hợp sau này có tranh chấp sẽ được giải quyết bằng một vụ án dân sự khác.
Đối với tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét. Trường hợp sau này có tranh chấp sẽ được giải quyết bằng một vụ án dân sự khác.
Về án phí và quyền kháng cáo:
Chị Nguyễn Thị Trúc L phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Các đương sự được quyền kháng cáo Bản án theo quy định tại Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
Điều 28, 35, 39, 147, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Trúc L.
[1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Trúc L được ly hôn anh Trần Đặng H.
Giấy chứng nhận kết hôn số 131, ngày 06/8/2019 do Ủy ban nhân dân xã K, huyện C, tỉnh An Giang cấp cho chị Nguyễn Thị Trúc L và anh Trần Đặng H không còn giá trị pháp lý.
[2] Về con chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
[3] Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
[4] Về nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
[5] Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị Trúc L phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 (ba trăm nghìn) đồng đã nộp theo Biên lai số 0014897 ngày 08/01/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang.
[6] Về quyền kháng cáo: Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
[7] Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh An Giang; - VKSND tỉnh An Giang; - VKSND huyện Chợ Mới; - Chi cục THADS huyện Chợ Mới; - Cơ quan đã thực hiện việc đăng ký kết hôn; - Đương sự; - Văn phòng; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Phước Sang |