- Tranh chấp gì? Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường — án dân sự — "Nguyễn Thị Ngọc D - Nguyễn Thị Lệ T"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bà Nguyễn Thị Ngọc D.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 16 Nghị định số 19/2019/NĐ-CP Về họ, hụi, biêu, phường
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẾN TRE | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 111/2024/DS-PT Ngày: 01-02-2024 V/v tranh chấp hợp đồng góp hụi |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẾN TRE
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Thu Trang;
Các Thẩm phán:
Ông Phan Thanh Tòng;
Bà Nguyễn Thị Rẻn.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diễm My - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bến Tre tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Hồng Vân - Kiểm sát viên.
Ngày 01 tháng 02 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 432/2023/TLPT-DS ngày 10 tháng 11 năm 2023 về “Tranh chấp hợp đồng góp hụi”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 122/2023/DS-ST ngày 18 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Nam bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 4343/2023/QĐXXPT-DS ngày 14 tháng 12 năm 2023 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn:
Bà Nguyễn Thị Ngọc D, sinh năm 1960; (có mặt)
Địa chỉ: Ấp M, xã N, huyện M, tỉnh Bến Tre.
2. Bị đơn:
Bà Nguyễn Thị Lệ T, sinh năm 1966; (vắng mặt)
1
Địa chỉ: Ấp M, xã N, huyện M, tỉnh Bến Tre.
3. Người làm chứng do nguyên đơn tự triệu tập:
Bà Nguyễn Thị Hạnh D1, sinh năm: 1970;
Địa chỉ: Ấp D, xã M, huyện M, tỉnh Bến Tre.
Người kháng cáo: Bà Nguyễn Thị Ngọc D, là nguyên đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo nội dung bản án sơ thẩm;
Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là bà Nguyễn Thị Ngọc D trình bày:
Bà Nguyễn Thị Lệ T có tham gia ba dây hụi do bà làm chủ hụi (đầu thảo) như sau:
- Dây thứ nhất: Hụi 500.000 đồng/tháng, khui ngày 15 tháng 11 năm 2019 âm lịch, hụi gồm 28 phần, bà T tham gia 03 phần. Ngày 15 tháng 5 năm 2020 âm lịch, bà T hốt một phần và nhận đủ số tiền 10.025.000 đồng. Đến tháng 8 năm 2020 âm lịch, bà T hốt phần hụi thứ hai và nhận đủ số tiền 11.105.000 đồng. Đến tháng 02 năm 2021 âm lịch, bà T hốt phần hụi thứ ba và nhận đủ số tiền 11.270.000 đồng. Đến tháng 3 năm 2021 âm lịch, bà T ngưng không đóng hụi chết cả ba phần hụi. Dây hụi này kết thúc ngày 15 tháng 4 năm 2022 âm lịch do có ba tháng 6, 7, 8 năm 2021 âm lịch không khui hụi vì dịch bệnh Covid 19 cho nên số tiền hụi chết bà T chưa đóng của ba phần hụi là 500.000 đồng x 03 phần x 11 tháng = 16.500.000 đồng.
- Dây thứ hai: Hụi 500.000 đồng/tháng, khui ngày 15 tháng 11 năm 2019 âm lịch, hụi gồm 28 phần, bà T tham gia 03 phần. Ngày 15 tháng 12 năm 2019 âm lịch, bà T hốt một phần và nhận đủ số tiền 9.430.000 đồng. Ngày 15 tháng 4 năm 2020 âm lịch, bà T hốt phần hụi thứ hai và nhận đủ số tiền 9.950.000 đồng. Đến tháng 10 năm 2020 âm lịch, bà T hốt phần hụi thứ ba và nhận đủ số tiền 11.900.000 đồng. Đến tháng 3 năm 2021 âm lịch, bà T ngưng không đóng hụi chết cả ba phần hụi. Dây hụi này kết thúc ngày 15 tháng 4 năm 2022 âm lịch do có ba tháng 6, 7, 8 năm 2021 âm lịch không khui hụi vì dịch bệnh Covid 19 cho nên số tiền hụi chết bà T chưa đóng của ba phần hụi này là 500.000 đồng x 03 phần x 11 tháng = 16.500.000 đồng.
2
- Dây thứ ba: Hụi 300.000 đồng/tháng, khui ngày 30 tháng 02 năm 2019 âm lịch, hụi gồm 34 phần, bà T tham gia 04 phần. Tháng 5 năm 2019 âm lịch, bà T hốt một phần và nhận đủ số tiền 7.950.000 đồng. Tháng 8 năm 2019 âm lịch, bà T hốt phần hụi thứ hai và nhận đủ số tiền 8.130.000 đồng. Đến tháng 12 năm 2019 âm lịch, bà T hốt phần hụi thứ ba và nhận đủ số tiền 8.370.000 đồng. Đến tháng 01 năm 2020 âm lịch, bà T hốt phần hụi thứ tư và nhận đủ số tiền 8.210.000 đồng. Đến tháng 8 năm 2020 âm lịch, bà T ngưng không đóng hụi chết cả bốn phần hụi. Dây hụi này kết thúc ngày 30 tháng 01 năm 2022 âm lịch do có ba tháng 6, 7, 8 năm 2021 âm lịch không khui hụi vì dịch bệnh Covid 19 cho nên số tiền hụi chết bà T chưa đóng của bốn phần hụi này là 300.000 đồng x 04 phần x 15 tháng = 18.000.000 đồng.
Như vậy, tổng số tiền của ba dây hụi bà T còn nợ bà là 51.000.000 đồng. Mặc dù bà đã nhiều lần yêu cầu nhưng bà T vẫn không trả. Nay bà yêu cầu Toà án giải quyết buộc bà Nguyễn Thị Lệ T có nghĩa vụ trả cho bà tổng số tiền nợ hụi là 51.000.000 (năm mươi mốt triệu) đồng và yêu cầu tính lãi chậm trả từ ngày 15 tháng 4 năm 2022 âm lịch (quy đổi là ngày 15 tháng 5 năm 2022 dương lịch) đến ngày Toà xét xử là 16 tháng 03 ngày với mức lãi suất là 0,83%/tháng, thành tiền là 6.815.000 đồng. Tổng cộng là 57.815.000 đồng.
Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn bà Nguyễn Thị Lệ T trình bày:
Bà thừa nhận bà có tham gia chơi hụi do bà Nguyễn Thị Ngọc D làm đầu thảo. Nay bà D khởi kiện thì bà chỉ đồng ý trả cho bà D số tiền 18.000.000 đồng. Lý do số tiền hụi bà D tính bà không đồng ý, sổ sách ghi hụi của bà D thì bà không có ký tên, danh sách hụi viên do bà D tự ghi, bà không biết, bà D cũng không giao cho bà. Ngoài ra, khi chơi hụi với bà D thì bà có một cuốn sổ theo dõi nhưng khi xảy ra dịch bệnh Covid 19 cháu ngoại của bà đã giao cho bà D giữ, bà đã yêu cầu bà D trả lại để đối chiếu nhưng bà D không trả. Do đó, bà chỉ đồng ý trả cho bà D số tiền 18.000.000 đồng và khi nào bà D trả cho bà cuốn sổ hụi trên thì bà mới trả tiền.
Do hòa giải không thành, Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Nam đã đưa vụ án ra xét xử.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 122/2023/DS-ST ngày 18 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Nam đã tuyên:
Căn cứ Điều 471 của Bộ luật Dân sự;
3
Căn cứ các điều 16, 24 của Nghị định số 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính phủ về họ, hụi, biêu, phường;
Căn cứ các điều 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;
Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Ngọc D.
Buộc bị đơn bà Nguyễn Thị Lệ T có nghĩa vụ trả cho nguyên đơn bà Nguyễn Thị Ngọc D số tiền nợ hụi là 18.000.000 (mười tám triệu) đồng và tiền lãi là 2.405.000 (hai triệu bốn trăm lẻ năm nghìn) đồng. Tổng cộng là 20.405.000 (hai mươi triệu bốn trăm lẻ năm nghìn) đồng.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với trường hợp cơ quan Thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.
Ngoài ra, Bản án còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.
Ngày 02/10/2023, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Ngọc D kháng cáo bản án sơ thẩm. Theo nội dung kháng cáo, bà D yêu cầu cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng buộc bị đơn bà T phải trả cho bà D số tiền hụi là 51.000.000 đồng.
Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn bà D giữ nguyên nội dung đơn kháng cáo.
Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bến Tre tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
- Về tố tụng: Những người tiến hành tố tụng đã tuân theo đúng các quy định của pháp luật tố tụng, những người tham gia tố tụng thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật tố tụng.
4
- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của bà D giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 122/2023/DS-ST ngày 18 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Nam.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa; kết quả tranh tụng tại phiên tòa; ý kiến đề nghị của Kiểm sát viên; xét kháng cáo của bà Nguyễn Thị Ngọc D; Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Ngọc D kháng cáo và thực hiện các thủ tục kháng cáo hợp lệ, trong thời hạn luật định nên được xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
Về nội dung:
Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Ngọc D khởi kiện yêu cầu bà Nguyễn Thị Lệ T có trách nhiệm trả số tiền nợ hụi là 51.000.000 đồng và tiền lãi là 6.815.000 đồng. Căn cứ chứng minh cho yêu cầu khởi kiện là các sổ hụi do bà D cung cấp cho Tòa án, bà cho rằng đó là sổ ghi danh sách hụi viên và số tiền hụi.
Bị đơn bà T không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, bà chỉ đồng ý trả cho nguyên đơn số tiền nợ hụi còn thiếu là 18.000.000 đồng.
Hội đồng xét xử xét thấy, bà D cung cấp các sổ ghi hụi cho Tòa án để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của mình, tuy nhiên nội dung các sổ ghi hụi bà D giao nộp không thể hiện rõ ràng về thông tin các dây hụi bà D khởi kiện, không có họ tên, năm sinh, địa chỉ của hụi viên, số phần hụi, số tiền kêu hụi, lãnh hụi, số tiền đóng hụi, chữ ký của bà T… Trong khi đó, bà T chỉ thừa nhận có tham gia chơi hụi do bà D làm đầu thảo còn lời trình bày và tài liệu, chứng cứ do bà D giao nộp bà T đều không đồng ý. Toà án đã tiến hành lấy lời khai những người làm chứng là những người có tham gia chơi hụi do bà D làm chủ hụi. Kết quả những người làm chứng đều chỉ xác nhận bà T có tham gia chơi hụi do bà D làm chủ hụi nhưng không biết bà T tham gia dây hụi nào, bao nhiêu phần, bà T còn nợ tiền hụi bà D hay không, nợ bao nhiêu.
Theo Điều 91 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì người khởi kiện phải có nghĩa vụ cung cấp tài liệu, chứng cứ chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của mình là có căn cứ và hợp pháp nhưng trong quá trình giải quyết vụ án, ngoài các
5
sổ ghi hụi đã giao nộp cho Tòa án thì bà D không cung cấp được tài liệu, chứng cứ nào khác để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của mình là có căn cứ.
Bị đơn bà T chỉ thừa nhận còn thiếu bà D số tiền hụi là 18.000.000 đồng và đồng ý trả cho bà D số tiền này. Đây là tình tiết không phải chứng minh được quy định tại Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà D, buộc bà T có nghĩa vụ trả cho bà D số tiền nợ hụi là 18.000.000 đồng.
Xét yêu cầu tính lãi của bà D đối với số tiền hụi còn nợ, xét thấy: Các dây hụi bà D khởi kiện đều đã kết thúc, trong đó, hai dây kết thúc ngày 15 tháng 4 năm 2022 âm lịch, một dây kết thúc trước ngày 15 tháng 4 năm 2022 âm lịch. Bà D yêu cầu tính lãi từ ngày 15 tháng 4 năm 2022 âm lịch (nhằm ngày 15 tháng 5 năm 2022 dương lịch) đến ngày xét xử vụ án với mức lãi suất là 0,83%/tháng là có căn cứ và phù hợp theo quy định tại Điều 471 của Bộ luật Dân sự năm 2015; các điều 16, 17, 21, 22, 24 của Nghị định 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Nghị định về hụi, họ, biêu, phường nên được chấp nhận. Tuy nhiên, do số tiền nợ hụi bà T có nghĩa vụ trả cho bà D là 18.000.000 đồng nên chỉ chấp nhận một phần yêu cầu tính lãi của bà D, buộc bà T có nghĩa vụ trả lãi cho bà D với số tiền là 18.000.000 đồng x 0,83%/tháng x 16 tháng 03 ngày = 2.405.000 đồng.
Từ những phân tích trên, nhận thấy Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà D đối với số tiền nợ hụi 18.000.000 đồng và tiền lãi 2.405.000 đồng là có căn cứ.
Bà D kháng cáo nhưng không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh cho yêu cầu kháng cáo là có căn cứ nên Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bà D, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bến Tre là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Về án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên bà D phải chịu án phí dân sự phúc thẩm, nhưng do bà D thuộc trường hợp người cao tuổi nên được miễn án phí.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
6
Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Không chấp nhận kháng cáo của bà Nguyễn Thị Ngọc D.
Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 122/2023/DS-ST ngày 18 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre.
Căn cứ các điều 147, 148 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ các điều 357, 468, 471 của Bộ luật Dân sự 2015; các điều 16, 17, 21, 22, 24 của Nghị định 19/2019/NĐ-CP ngày 19 tháng 02 năm 2019 của Chính phủ về họ, hụi, biêu, phường; Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Ngọc D.
Buộc bị đơn bà Nguyễn Thị Lệ T phải có nghĩa vụ trả cho nguyên đơn bà Nguyễn Thị Ngọc D số tiền nợ hụi là 18.000.000đ (mười tám triệu đồng) và tiền lãi là 2.405.000đ (hai triệu bốn trăm lẻ năm nghìn đồng). Tổng cộng là 20.405.000đ (hai mươi triệu bốn trăm lẻ năm nghìn đồng).
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với trường hợp cơ quan Thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.
3. Về án phí:
- Án phí dân sự sơ thẩm:
Bà Nguyễn Thị Ngọc D được miễn án phí dân sự sơ thẩm.
Bà Nguyễn Thị Lệ T có nghĩa vụ chịu án phí là 1.020.000đ (một triệu không trăm hai mươi nghìn đồng).
- Án phí dân sự phúc thẩm:
Bà Nguyễn Thị Ngọc D được miễn án phí dân sự phúc thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành
7
án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND tỉnh Bến Tre; - TAND huyện Mỏ Cày Nam; - Chi cục THADS huyện Mỏ Cày Nam; - Phòng KTNV&THA TAND tỉnh; - Lưu hồ sơ vụ án. 8 | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Thu Trang |