vanban.org

Bản án 111/2023/HSST — Hình sự

TAND Q. Tân Phú, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 04/08/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Trần Vũ T phạm tội “Tàng trữ hàng cấm”;

* Áp dụng điểm c Khoản 3 Điều 191; Điều 38; điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (được s a đổi, bổ sung năm 2017); X phạt bị cáo: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "bị cáo Trần Vũ T phạm tội “Tàng trữ hàng cấm”; - phạm tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm (điều 191 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Vũ T phạm tội “Tàng trữ hàng cấm”;
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 191 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN T
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 111/2023/HSST
Ngày : 04/8/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN T, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Huỳnh Hoàng Phương;

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Ông Nguyễn Đình Thức;

2/ Bà Nguyễn Thị Mỹ Linh;

Thư ký phiên tòa: bà Lê Thị Tường Vi là Thư ký Tòa án nhân dân quận T, Thành phố Hồ Chí Minh;

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận T, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: bà Phan Ngọc Minh là Kiểm sát viên;

Hôm nay, ngày 04 tháng 8 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận T, Thành phố Hồ Chí Minh xét x sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 103/2023/TLST-HS ngày 29 tháng 06 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét x số 132/2023/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 7 năm 2023 đối với bị cáo:

Họ và tên: TRẦN VŨ T; Giới tính: Nam; Sinh năm: 1985 tại tỉnh Bạc Liêu; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Khmer; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: đường B, Phường M, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; Chỗ ở: Như trên; Nghề nghiệp: Quản lý kho hàng; Con ông Trần Văn Ư, sinh năm 1957 và bà Triệu Ngọc Đ, sinh năm 1957; Anh, chị, em ruột: 02 người (lớn nhất sinh năm 1987, nhỏ nhất sinh năm 1989); Vợ; Trương Thị L, sinh năm 1986; Con: 02 người (nhỏ nhất sinh năm 2011, lớn nhất sinh năm 2007); Nhân thân bị can: Không; Tiền án, tiền sự: Không có; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/3/2023;

(có mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trần Vũ T là người làm thuê cho vợ chồng anh Trương V và chị Nguyễn Thị Tuyết N tại Công ty TNHH dịch vụ du lịch vận tải M, địa chỉ đường S, phường H, quận B do vợ chồng anh Trương V và chị Nguyễn Thị Tuyết N sáng lập, giao cho T làm Giám đốc. T được anh V giao nhiệm vụ quản lý, điều hành toàn bộ hoạt động tại kho hàng M đường N, phường T, quận T và kho hàng số 177C đường M, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.

Vào ngày 04/01/2023, T nhận được cuộc gọi của người bạn tên P (quốc tịch Campuchia, không rõ lai lịch) qua ứng dụng Telegram nói rằng có nhận vận chuyển pháo nổ từ huyện T, tỉnh An Giang đến Thành phố Hồ Chí Minh cho một người phụ nữ tên K (không rõ lai lịch) với giá 1.500.000 đồng/thùng và thỏa thuận với T sẽ để số pháo nổ trên tại kho hàng nơi T làm việc để chờ người đến lấy, và P sẽ trả công cho T 500.000 đồng/thùng thì T đồng ý.

Khoảng chiều tối ngày 05/01/2023, P s dụng điện thoại có số thuê bao +855718749*** gọi cho T báo có một xe tải lớn mang đầu số 67 chở 7 thùng hàng là pháo nổ quấn băng keo màu vàng đã đến kho xuất hàng tại địa chỉ 177C đường M, phường B, quận B và yêu cầu T ra nhận. Do đó, T dùng xe ô tô hiệu Huyndai biển số 50H-156.17 (do Công ty TNHH DV DL vận tải M đăng ký chủ sở hữu) cùng với 02 nhân viên bốc vác là anh Thạch Huỳnh N và anh Trần Minh L đến kho hàng số 177C. Tại đây, trong lúc anh N và anh L vào lấy hàng hóa khác thì T đến gặp tài xế xe tải như P chỉ dẫn lấy 7 thùng hàng quấn băng keo màu vàng chất lên xe biển số 50H-156.17. Sau đó, khi lấy xong các các hàng hóa khác, T cùng anh N, L điều khiển xe chạy về chành xe tại đường N, phường T, quận T để 07 thùng hàng là pháo nổ tại đây và T không ghi vào sổ theo dõi nhập xuất hàng hóa tại chành xe.

Sáng ngày 06/01/2023, P gọi điện thoại cho T nói có người đến lấy trước 04 thùng hàng như trên nên T gọi điện thoại cho Sơn B (nhân viên tại kho hàng đường N, phường T, quận T) để chỉ vị trí để các thùng hàng và dặn khi nào có người đến nói “nhận hàng cho chị K” thì giao giúp T 04 thùng hàng cho họ. Khoảng 12 giờ 20 phút ngày 06/01/2023, có một đối tượng (chưa rõ lai lịch) điều khiển xe gắn máy hiệu Exciter, biển số 59S2-224.24 đến nói nhận 04 thùng hàng cho chị K và yêu cầu Sơn B đưa trước 02 thùng hàng. Tiếp đó, đối tượng giao 02 thùng hàng cho một tài xế công nghệ Ahamove (chưa rõ lai lịch) điều khiển xe gắn máy dạng AirBlade màu trắng đen, biển số 49N8-2136 chở đi.

Khoảng 12 giờ 55 phút cùng ngày, đối tượng s dụng số điện thoại 0354972*** vào app Ahamove, liên hệ anh Huỳnh Trung H đến nhận hàng tại đường N, phường T, quận T để giao đến nhà xe P tại đường T, phường P, quận T và s dụng ví Momo số đăng ký 0973032*** tên Nguyễn Tuấn A để chuyển 100.000 đồng tiền vận chuyển cho anh H. Khi anh H đến thì theo yêu cầu của đối tượng, anh Sơn B giao cho anh H 02 thùng hàng là pháo nổ. Khi anh H chở 02 thùng hàng này đến nhà xe P thì bị nhân viên là anh Nguyễn Ngọc T kiểm tra phát hiện bên trong chứa hàng hóa nghi vấn là pháo nổ nên không nhận và anh H đã chở 02 thùng hàng này đến Công an phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh trình báo.

Khoảng 15 giờ 30 phút ngày 06/01/2023, Đội Cảnh sát Kinh tế Công an quận T kết hợp Công an phường T tiến hành kiểm tra hành chính tại kho hàng M đã phát hiện bên trong kho nhận hàng vẫn còn lưu trữ 03 thùng carton, bên trong có chứa 54 hộp giấy, mỗi hộp giấy chứa 49 thỏi vật thể nghi vấn là pháo nổ nên đưa T về trụ sở làm việc.

Tại Cơ quan điều tra, Trần Vũ T đã thừa nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên, phù hợp với các tài liêu chứng cứ khác do Cơ quan điều tra thu thập.

Qua xác minh số điện thoại 0973032*** và tài khoản ví Momo số 0973032*** được biết do Nguyễn Tuấn A (SN: 20/07/1997; Giới tính: Nam; Nơi thường trú: đường Đ, huyện L, tỉnh Bình Thuận; CMND số 261502*** đứng tên và đăng ký s dụng tài khoản thanh toán số 1012792*** mở tại Vietcombank K. Tuy nhiên đến thời điểm hiện tại, Vietcombank K không còn hình ảnh lưu trữ khi khách hàng đến mở tài khoản. Qua xác minh, Công an xã Đ huyện L, tỉnh Bình Thuận được biết Nguyễn Tuấn A không thực tế cư ngụ tại địa phương, không rõ đang làm gì, ở đâu nên Cơ quan điều tra chưa làm việc được.

Qua xác minh số điện thoại 0354972*** được biết do anh Đặng Công T2 (ngụ: Ấp T, xã A, huyện C, tỉnh Tiền Giang đứng tên chủ thuê bao. Tuy nhiên, anh T2 trình bày không đăng ký và không s dụng số thuê bao này và cũng không quen biết ai tên Nguyễn Tuấn A. Cơ quan điều tra đã cho anh Sơn B nhận dạng Nguyễn Tuấn A và Đặng Công T2, kết quả anh Sơn B không nhận dạng được do đối tượng đội nón bảo hiểm và mang khẩu trang che kín mặt.

Qua xác minh xe gắn máy dạng Exciter, biển số 59S2-224.24 được biết do chị Vũ Thùy Ngọc L (Địa chỉ: đường Đ, phường H, quận B) đứng tên chủ sở hữu. Qua làm việc, chị L trình bày chiếc xe trên mua vào năm 2015. Sau đó, chị L đã bán xe cho một người không rõ lai lịch, quá trình mua bán không có làm hợp đồng, không viết giấy tờ mua bán.

Qua xác minh xe gắn máy dạng AirBlade màu trắng đen biển số 49N8-2136 không tìm thấy dữ liệu cần tra cứu nên không xác định được chủ sở hữu hợp pháp. Đồng thời qua xác minh tại Công ty Cổ phần D (Ahamove) thì không có tài xế đăng ký thông tin xe gắn máy trên.

Xác minh số thuê bao +855718749*** xác định số thuê bao này không phải của Việt Nam và mã “855” là mã điện thoại quốc tế của Vương quốc Campuchia.

Theo Kết luận giám định số 580/KL-KTHS ngày 11/01/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh kết luận:

- 18 khối hình hộp kích thước 17 x 17 x 10 cm, bên ngoài được bọc giấy nhiều màu sắc (mỗi khối gồm 49 ống hình trụ có đường kính 2,4 cm, cao 10 cm được gắn với nhau) cần giám định được ký hiệu mẫu m1 (đã nêu ở mục I.1) đều là pháo nổ, khi bị kích thích (hoặc đốt) có gây tiếng nổ, phát ra ánh sáng, có tổng khối lượng 28,19 kg;

- 18 khối hình hộp kích thước 17 x 17 x 10 cm, bên ngoài được bọc giấy nhiều màu sắc (mỗi khối gồm 49 ống hình trụ có đường kính 2,4 cm, cao 10 cm được gắn với nhau) cần giám định được ký hiệu mẫu m2 (đã nêu ở mục I.1) đều là pháo nổ, khi bị kích thích (hoặc đốt) có gây tiếng nổ, phát ra ánh sáng, có tổng khối lượng 28,16 kg;

- 18 khối hình hộp kích thước 17 x 17 x 10 cm, bên ngoài được bọc giấy nhiều màu sắc (mỗi khối gồm 49 ống hình trụ có đường kính 2,4 cm, cao 10 cm được gắn với nhau) cần giám định được ký hiệu mẫu m3 (đã nêu ở mục I.1) đều là pháo nổ, khi bị kích thích (hoặc đốt) có gây tiếng nổ, phát ra ánh sáng, có tổng khối lượng 28,20 kg;

- 18 khối hình hộp kích thước 17 x 17 x 10 cm, bên ngoài được bọc giấy nhiều màu sắc (mỗi khối gồm 49 ống hình trụ có đường kính 2,4 cm, cao 10 cm được gắn với nhau) cần giám định được ký hiệu mẫu m4 (đã nêu ở mục I.1) đều là pháo nổ, khi bị kích thích (hoặc đốt) có gây tiếng nổ, phát ra ánh sáng, có tổng khối lượng 28,16 kg;

- 18 khối hình hộp kích thước 17 x 17 x 10 cm, bên ngoài được bọc giấy nhiều màu sắc (mỗi khối gồm 49 ống hình trụ có đường kính 2,4 cm, cao 10 cm được gắn với nhau) cần giám định được ký hiệu mẫu m5 (đã nêu ở mục I.1) đều là pháo nổ, khi bị kích thích (hoặc đốt) có gây tiếng nổ, phát ra ánh sáng, có tổng khối lượng 28,59 kg;

* Vật chứng:

- 90 hộp pháo nổ, bên ngoài có ghi chữ “KS44911L BILLIONLIVE” có tổng khối lượng là 141,3 kg, hiện Cơ quan điều tra đã bàn giao cho Kho vũ khí-đạn/Phòng Kỹ thuật/Bộ Tư lệnh Thành phố Hồ Chí Minh quản lý;

- 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy S10+ màu xám, số Imei 1: 354756102980611, số imei 2: 354757102980619. Đây là phương tiện T dùng để liên lạc hằng ngày và thỏa thuận với P việc tàng trữ pháo nổ. Hiện đang nhập kho vật chứng theo Phiếu nhập kho vật chứng số 69/PNK ngày 18/4/2023 của đội Cảnh sát kinh tế Công an quận T;

Tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội và khai nhận như bản cáo trạng đã nêu.

Tại bản cáo trạng số 108/CT-VKSQTP ngày 28 tháng 6 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân quận T, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Trần Vũ T về tội “Tàng trữ hàng cấm” theo điểm c Khoản 3 Điều 191 Bộ luật hình sự năm 2015 (s a đổi, bổ sung năm 2017);

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận T, Thành phố Hồ Chí Minh vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo theo như cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét x áp dụng Điều 38, điểm s Khoản 1 Điều 51, điểm c Khoản 3 Điều 191 Bộ luật hình sự năm 2015 (s a đổi, bổ sung năm 2017) x phạt bị cáo mức án từ 05 (năm) năm đến 06 (sáu) năm tù; đồng thời đề nghị x lý vật chứng theo quy định pháp luật.

Bị cáo nói lời sau cùng: bị cáo rất hối hận về việc làm của mình, mong Hội đồng xét x xem xét cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất để bị cáo có cơ hội s a sai, làm lại cuộc đời;

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét x nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận T, Thành phố Hồ Chí Minh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận T, Thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Sau khi xem xét lời khai nhận tội của các bị cáo; bản kết luận điều tra của Cơ quan cảnh sát điều tra, bản cáo trạng của Viện kiểm sát, lời khai của những người làm chứng, những người liên quan cùng các tài liệu, chứng cứ khác thu thập trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét x xét thấy đủ cơ sở xác định vào ngày 06/01/2023 bị cáo Trần Vũ T đã có hành vi tàng trữ hàng cấm là pháo nổ với khối lượng là 141,3 kg tại kho hàng M – đường N, phường T, quận T nhằm mục đích hưởng lợi từ tiền thuê kho chứa hàng cấm thì bị kiểm tra, phát hiện. Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Tàng trữ hàng cấm”, tội danh và hình phạt được quy định tại điểm c Khoản 3 Điều 191 Bộ luật hình sự năm 2015 (s a đổi, bổ sung năm 2017);

Đối với các đối tượng P và đối tượng s dụng xe gắn máy biển số 49N8-2136 hiện chưa xác định được lai lịch, Cơ quan điều tra đang tiếp tục truy tìm x lý sau.

Đối với Nguyễn Tuấn A không thực tế cư trú tại địa phương, hiện không rõ nơi ở nên Cơ quan điều tra chưa làm việc được để làm rõ sự liên quan của Tuấn A, hiện Cơ quan điều tra đã ra quyết định truy tìm, x lý sau.

Đối với Sơn B, Thạch Huỳnh N và Trần Minh L không biết các thùng hàng được quấn kín băng keo màu vàng là pháo nổ nên không có cơ sở x lý.

Đối với anh Đặng Công T2 trình bày không liên quan đến vụ án, không biết ai tên Nguyễn Tuấn A nên không có cơ sở x lý.

Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chế độ độc quyền của Nhà nước trong quản lý, sản xuất, kinh doanh một số loại hàng cấm, vi phạm trật tự quản lý kinh tế, gây thiệt hại cho lợi ích của Nhà nước. Vì động cơ vụ lợi, bị cáo đã thực hiện hành vi tàng trữ hang cấm là pháo nổ nhằm thu lợi bất chính, xâm phạm đến quy định an toàn trong công tác phòng chống cháy nổ, vi phạm chính sách quản lý hàng hoá của Nhà nước đối với các mặt hàng có điều kiện, bất chấp sự trừng trị của pháp luật, thể hiện bị cáo rất liều lĩnh và xem thường pháp luật của nhà nước. Vì vậy, cần x phạt bị cáo với hình phạt nghiêm khắc, phù hợp với tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo mới có đủ tác dụng răn đe và phòng ngừa.

Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có;

- Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (được s a đổi, bổ sung năm 2017);

Về x lý vật chứng:

Đối với một (01) điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy S10+ màu xám, số Imei 1: 354756102980611, số imei 2: 354757102980619 thu giữ của bị cáo. Hội đồng xét x xét thấy bị cáo s dụng vào mục đích phạm tội nên tịch thu sung quỹ Nhà nước;

Đối với 90 (chín mươi) hộp pháo nổ bên ngoài có ghi chữ “KS44911L BILLIONLIVE” có tổng khối lượng là 141,3 kg là hàng hoá Nhà nước cấm lưu hành nên tịch thu tiêu huỷ;

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật;

Vì các lẽ nêu trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Trần Vũ T phạm tội “Tàng trữ hàng cấm”;

* Áp dụng điểm c Khoản 3 Điều 191; Điều 38; điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (được s a đổi, bổ sung năm 2017);

X phạt bị cáo:

Trần Vũ T 05 (năm) năm tù.

Thời hạn tù tính từ ngày 06/3/2023;

* Áp dụng Điều 106, Khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a Khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và s dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tịch thu tiêu hủy: 90 (chín mươi) hộp pháo nổ bên ngoài có ghi chữ “KS44911L BILLIONLIVE” có tổng khối lượng là 141,3 kg;

Tịch thu sung quỹ Nhà nước: một (01) điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy S10+ màu xám, số Imei 1: 354756102980611, số imei 2: 354757102980619;

(Tình trạng vật chứng theo Phiếu nhập kho vật chứng số 69/PNK ngày 18 tháng 4 năm 2023 của Công an quận T, Thành phố Hồ Chí Minh);

Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí Hình sự sơ thẩm.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo có quyền kháng cáo; người có quyền lợi và N vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh trong hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc ngày Tòa án tống đạt, niêm yết bản án hợp lệ theo quy định của pháp luật;

Hội đồng xét x quyết định tạm giam bị cáo Trần Vũ T 45 ngày tính từ ngày tuyên án để đảm bảo việc thi hành án.

Cỡ chữ