vanban.org

Bản án 111/2023/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Hải Châu, TP Đà Nẵng Tuyên án 21/02/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Quốc N phạm tội “Trộm cắp tài sản” và tội “Hủy hoại tài sản”.

1 Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 173; điểm e khoản 1 Điều 52, điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Nguyễn Quốc N 04 (Bốn) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giam, ngày 25/3/2023. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bi cao Nguyen Quoc Nhut pham toi "Trom cap tai san" - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 201…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Quốc N phạm tội “Trộm cắp tài sản” và tội “Hủy hoại tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN Q. HẢI CHÂU
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 111/2023/HS-ST
Ngày: 21-9- 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU - TP ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hồ Thị Mỹ Dung

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Công Lương.

Ông Huỳnh Thanh Trà.

- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Ánh Nguyệt - Thư ký Tòa án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Quỳnh Trang - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 94/2023/TLST-HS ngày 30 tháng 8 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 94/2023/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 9 năm 2023 đối với bị cáo:

Nguyễn Quốc N. Tên gọi khác: Tô.

Sinh ngày 06 tháng 3 năm 1987 tại tỉnh Quảng Nam. Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Số 19 N phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Trình độ văn hóa: 12/12. Nghề nghiệp: Lao động phổ thông. Con ông: Không rõ và bà Nguyễn Thị T (sinh năm: 1952, còn sống). Gia đình có 03 anh, em. Bị cáo là con thứ 03.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam theo Quyết định tạm giam của Tòa án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an quận Hải Châu, có mặt tại phiên tòa.

* Bị hại:

- Ngân hàng A. Địa chỉ trụ sở: Số 130 P, quận P, thành phố Hồ Chí Minh. Người đại diện theo pháp luật: ông Nguyễn Thanh T. Chức vụ: Chủ tịch HĐQT. Người đại diện theo ủy quyền: ông Lê Hùng M. Chức vụ: Giám đốc Chi nhánh Đà Nẵng. Địa chỉ: Số 167 N, thành phố Đà Nẵng tham gia tố tụng theo văn bản ủy quyền số 163/QĐ-DAB-HĐQT-PC ngày 08/8/2023, có mặt.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Tổng Công ty Cổ phần Bảo hiểm Ngân hàng TMCP C. Địa chỉ trụ sở: Tầng 10, 11 Tòa nhà Số 126 Đ, quận B, thành phố Hà Nội. Người đại diện theo pháp luât: Bà Bùi Thị Thanh X. Chức vụ: Phó Tổng giám đốc. Người đại diện theo ủy quyền ông Chu Ngọc A. Chức vụ: Chuyên viên Phòng BT Hàng hải và Tài sản Kỹ thuật Văn phòng Miền Nam. Địa chỉ: Số 66 B, phường 2, quận T, thành phố Hồ Chí Minh tham gia tố tụng theo văn bản ủy quyền số 2400/UQ-VBI10 ngày 06/9/2023, có mặt.

- Ông Ngô Thanh T. Sinh năm 1987. Địa chỉ: Xã B, huyện T, tỉnh Q, vắng mặt.

- Bà Nguyễn Thị Ngọc H. Sinh năm 1980. Địa chỉ: Số 19 N, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng, có mặt.

* Người chứng kiến: Ông Lương Đình Q. Sinh năm: 1985. Địa chỉ: Thôn P, xã Đ, thị xã Đ, tỉnh Q, có mặt.

Ông Nguyễn Quốc M. Sinh năm: 1980. Địa chỉ: Số 19 N, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng, có mặt.

NỘI DUNG CỦA VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Từ đầu năm 2023, Nguyễn Quốc N mở tài khoản và nạp tiền để thực hiện giao dịch tiền ảo trên sàn giao dịch Bitmeta 4. Quá trình giao dịch, N thua nhiều tiền nên nảy sinh ý định trộm cắp tài sản để trả nợ và có tiền để tiếp tục giao dịch.

Đêm ngày 19.3.2023, N điều khiển xe mô tô hiệu Yamaha Sirius, màu đỏ - đen, biển số 43R3-1878 đi trên các tuyến đường trong thành phố Đà Nẵng, tìm các trụ rút tiền tự động (máy ATM) đặt ở nơi vắng vẻ để trộm cắp tiền. N thấy máy ATM của Ngân hàng A, chi nhánh Đà Nẵng (loại máy ATM G21L, mã máy: 1442) đặt sát hàng rào trường THPT Phan Châu Trinh - số 41 Lê Duẩn, phường Hải Châu 1, quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng, vắng vẻ, bị khuất sau các hàng cây và ít người qua lại nên N chọn để thực hiện hành vi trộm cắp. N vào bên trong buồng ATM, cắt cầu dao điện rồi đứng cách xa một đoạn theo dõi xem có hệ thống báo động hoặc có nhân viên ngân hàng đến kiểm tra hay không. Khoảng 30 phút sau, không thấy gì nên N đến bật lại cầu dao rồi về nhà. Đêm ngày 20.3.2023, N tiếp tục quay lại máy ATM trên, cắt cầu dao trong hộp điện như lần trước, rồi đứng cách xa một đoạn để quan sát động tĩnh. Khoảng 30 phút sau, N vẫn không thấy báo động hay có người đến nên N xác định là khi hệ thống điện bị ngắt vẫn không bị phát hiện.

Khoảng 00 giờ ngày 23.3.2023, N mang theo 01 đôi găng tay vải, màu xám và 02 chiếc xà beng nhổ đinh bằng kim loại, điều khiển xe mô tô đến máy ATM trên. N cắt cầu dao điện của máy rồi đứng quan sát. Khoảng 30 phút sau, không thấy bất thường nên N dùng xà beng cạy phá máy ATM. Do cửa két sắt đựng tiền cứng, không cạy được nên tháo thiết bị nghi là lưu dữ liệu camera, vứt đôi găng tay và để 02 chiếc xà beng gần hàng rào rồi rời đi.

N về nhà thì thấy có 01 máy cắt cầm tay nên lấy quay lại cắt phá máy, lấy 02 hộc đựng tiền đến chân cầu Thuận Phước, dùng đá đập phá lấy toàn bộ số tiền 175.300.000 đồng bên trong. N dùng tiền trả nợ và nạp các giao dịch tiền ảo trên sàn Bitmeta 4 nhưng đã thua hết.

Đến chiều ngày 23.3.2023, lo sợ bị phát hiện nên N giả vờ viết thư tuyệt mệnh, để xe và nón bảo hiểm trên cầu Đỏ, quận Cẩm Lệ, TP. Đà Nẵng để mọi người tưởng N đã tự tử. N đến nhà bạn là Ngô Thanh T, N nói với T là đang buồn chuyện gia đình nên sẽ vào thành phố Hồ Chí Minh một thời gian, N mượn Tâm 1.000.000 đồng rồi đón xe khách đi đến Phú Yên thì bị Cơ quan CSĐT công an quận Hải Châu, TP Đà Nẵng phát hiện, bắt giữ.

Vật chứng thu giữ: 01 xe mô tô Yamaha Sirius màu đỏ - đen, biển số 43R3-1878, số máy: 397178, số khung: 397119, 01 giấy đăng ký xe mang tên Nguyễn Thị Ngọc H, 01 mũ bảo hiểm màu trắng - xanh, 01 bảo hiểm y tế mang tên Nguyễn Quốc N; 02 chiếc xà beng bấy đinh bằng kim loại màu nâu, dài khoảng 60cm, một đầu dẹp, một đầu uốn cong; 01 máy cắt cầm tay nhãn hiệu Total Angle Grinder, màu xanh, dài khoảng 30cm (đã qua sử dụng); 01 đĩa CD-R màu vàng, lưu hình ảnh các dấu vết đường vân thu giữ tại hiện trường; 01 tờ giấy khổ A4 do Nguyễn Quốc N viết có nội dung thừa nhận hành vi đập phá, trộm cắp tài sản máy ATM và có ý định tự tử gửi lại gia đình do anh ruột của N là Nguyễn Quốc M giao nộp.

Tình trạng máy AMT sau khi bị N đập phá: Mất 01 router cisco 878; hư hỏng 01 card reader; hư hỏng 01 cửa tiền; hư hỏng 01 bộ nguồn; mất 01 power supply (nguồn điều khiển thiết bị); hư hỏng cửa két tiền; mất 02 thùng đựng tiền; hư hỏng cửa bảo vệ két tiền. Các hư hỏng trên không có khả năng sửa chữa, máy ATM bị hư hỏng hoàn toàn, không còn giá trị sử dụng.

Theo Kết luận định giá tài sản số 51/KL-HĐĐGTS ngày 12.4.2023 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự quận Hải Châu, kết luận: Máy ATM bị thiệt hại có trị giá là 70.799.000 đồng.

Tại phiên tòa hôm nay, bị hại là Ngân hàng A đề nghị Tòa án xử phạt bị cáo mức án đúng quy định của pháp luật, về phần dân sự gia đình bị cáo đã nộp khắc phục cho Ngân hàng số tiền 30.000.000đ nên Ngân hàng yêu cầu Tòa án buộc bị cáo N phải tiếp tục bồi thường số tiền 216.099.000đ.

Đại diện Tổng Công ty Cổ phần Bảo hiểm Ngân hàng TMCP C trình bày về việc Công ty đã tạm ứng bồi thường cho Ngân hàng A số tiền 97.725.600đ.

Bản cáo trạng số 92/CT-VKS ngày 30/8/2023 của Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng truy tố bị cáo Nguyễn Quốc N về tội “ Trộm cắp tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 173 và tội “ Hủy hoại tài sản” theo điểm b khoản 2 Điều 178 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo như cáo trạng đã nêu và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Quốc N phạm tội “ Trộm cắp tài sản” và tội “ Hủy hoại tài sản”. Đề nghị HĐXX áp dụng áp dụng điểm c khoản 2 điều 173 , điểm e khoản 1 Điều 52, điểm b, s khoản 1 điều 51 BLHS xử phạt bị cáo Nguyễn Quốc N từ 03 (Ba) năm 06 (Sáu) tháng đến 04 (Bốn) năm 06 (Sáu) tháng tù; đề nghị áp dụng điểm b khoản 2 điều 178 , điểm b, s khoản 1 điều 51 BLHS xử phạt bị cáo Nguyễn Quốc N từ 02 (Hai) năm đến 03 (Ba) tù và áp dụng điều 55 Bộ luật hình sự để tổng hợp hình phạt đối với bị cáo N.

Về dân sự: Quá trình giải quyết vụ án bị cáo N đã tác động gia đình bồi thường khắc phục cho bị hại Ngân hàng A số tiền 30.000.000đ. Do đó, đề nghị HĐXX căn cứ Điều 584, Điều 585, Điều 589 BLDS buộc bị cáo N phải tiếp tục bồi thường số tiền 216.099.000đ.

Về xử lý vật chứng: Đối với xe mô tô biển số 43R3-1878 thuộc sở hữu của chị Nguyễn Thị Ngọc H- là chị dâu của N, cho N mượn nhưng không biết việc N phạm tội nên Cơ quan CSĐT Công an quận Hải Châu trả lại cho chị Hoa là có căn cứ.

Đối với 01 thẻ bảo hiểm y tế mang tên Nguyễn Quốc N và và 01 nón bảo hiểm, không liên quan đến hành vi phạm tội nên Cơ quan CSĐT Công an quận Hải Châu trả lại cho anh Nguyễn Quốc M (anh ruột của N) là có căn cứ.

Đối với 02 chiếc xà beng bấy đinh bằng kim loại màu nâu, dài khoảng 60cm, một đầu dẹp, một đầu uốn cong; 01 máy cắt cầm tay nhãn hiệu Total Angle Grinder, màu xanh, dài 30cm là công cụ, phương tiện phạm tội đề nghị HĐXX tuyên tịch thu tiêu hủy.

Đề nghị lưu theo hồ sơ vụ án: 01 đĩa CD-R màu vàng, lưu hình ảnh các dấu vết đường vân thu giữ tại hiện trường và 01 tờ giấy khổ A4 do Nguyễn Quốc N viết có nội dung “thư tuyệt mệnh”.

Bị cáo N không có ý kiến tự bào chữa và không có ý kiến tranh luận gì.

Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm có cơ hội làm lại cuộc đời.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi và quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

Về hành vi phạm tội: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Quốc N đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cũng như các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập trong hồ sơ vụ án. Do đó, HĐXX có đủ cơ sở để kết luận: Để có tiền trả nợ và giao dịch tiền ảo, khoảng 00 giờ ngày 23.3.2023, tại trụ rút tiền tự động ATM của Ngân hàng A chi nhánh Đà Nẵng - số 41 L, phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng, Nguyễn Quốc N đã dùng xà ben, máy cắt đập phá máy, trộm cắp 175.300.000 đồng và làm thiệt hại máy ATM trị giá 70.799.000 đồng.

Về tính chất, hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi của bị cáo N là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng đến an ninh trật tự tại địa phương và gây tâm lý hoang mang, lo sợ trong quần chúng nhân dân. Bị cáo đã có hành vi cạy phá cây ATM để trộm cắp tài sản thể hiện sự liều lĩnh, táo bạo, tính toán trong hành vi phạm tội. Trị giá tài sản bị cáo lén lút trộm cắp là 175.300.000 đồng và thiệt hại máy ATM trị giá 70.799.000 đồng. Do đó, hành vi phạm tội của bị cáo phạm vào điểm c khoản 2 Điều 173 và điểm b khoản 2 Điều 178 Bộ luật hình sự như bản cáo trạng số 92/CT- VKS ngày 30-8-2023 của Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu đã truy tố là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật nên đối với bị cáo N cần phải xử cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo :

Căn cứ hồ sơ vụ án, bị cáo đã có sự theo dõi, nghiên cứu thông tin kết cấu của máy ATM trước khi thực hiện hành vi phạm tội, tối ngày 23/3/2023 khi sử dụng xà beng cạy phá máy ATM để trộm tiền không được bị cáo đã trở về nhà lấy máy cắt cầm tay quay lại phá cây ATM nhằm trộm cắp tài sản. Do đó, về ý thức bị cáo đã cố tình thực hiện đến cùng mục đích trộm cắp tài sản nên hành vi phạm tội thuộc tình tiết tăng nặng “cố tình thực hiện tội phạm đến cùng” quy định tại điểm e khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự đối với tội “Trộm cắp tài sản”.

Tuy nhiên, trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo N đã thành khẩn khai báo, bị cáo đã tác động gia đình bồi thường khắc phục một phần hậu quả nên cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, 2 điều 51 Bộ luật hình sự để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi lượng hình. Do bị cáo phạm nhiều tội nên cần áp dụng điều 55 Bộ luật hình sự để tổng hợp hình phạt đối với bị cáo N.

Các vấn đề liên quan:

Đối với chị Nguyễn Thị Ngọc H, đã cho N mượn xe mô tô biển số 43R3-1878 và nón bảo hiểm sử dụng nhưng không biết việc N phạm tội nên Cơ quan CSĐT Công an quận Hải Châu xử lý là có căn cứ.

Đối với anh Ngô Thanh T, đã cho N mượn tiền nhưng không biết việc N đã phạm tội và mượn tiền để trốn vào thành phố Hồ Chí Minh nên Cơ quan CSĐT Công an quận Hải Châu không xử lý là có căn cứ.

Về dân sự: Tại phiên tòa, Đại diện Ngân hàng A xác nhận gia đình bị cáo N đã bồi thường cho Ngân hàng số tiền 30.000.000đ. Do đó, Ngân hàng yêu cầu bị cáo N tiếp tục bồi thường số tiền 216.099.000đ.

Tại phiên tòa hôm nay, Tổng Công ty Cổ phần Bảo hiểm Ngân hàng TMCP C yêu cầu cáo bồi thường cho Tổng Công ty số tiền Công ty đã tạm ứng bồi thường cho Ngân hàng là 97.725.600đ. HĐXX đã tạo điều kiện cho bị cáo, bị hại, người liên quan thực hiện việc tự thỏa thuận bồi thường nhưng bị cáo N không đồng ý bồi thường cho Tổng Công ty Cổ phần Bảo hiểm Ngân hàng TMCP C, bị hại Ngân hàng A là người có quyền không đồng ý cho bị cáo N chuyển giao nghĩa vụ. Do đó, căn cứ quy định của pháp luật HĐXX chỉ xác định trách nhiệm bồi thường của bị cáo N đối với bị hại là Ngân hàng TMCP A. Các giao dịch giữa Ngân hàng A và Tổng Công ty Cổ phần Bảo hiểm Ngân hàng TMCP C liên quan đến hợp đồng bảo hiểm là quan hệ dân sự khác. Sau này giữa các đương sự nếu có tranh chấp và khởi kiện thì Tòa án sẽ giải quyết bằng vụ án dân sự khác.

Về xử lý vật chứng:

Đối với xe mô tô biển số 43R3-1878 thuộc sở hữu của chị Nguyễn Thị Ngọc H

- là chị dâu của N, cho N mượn nhưng không biết việc N phạm tội nên Cơ quan CSĐT Công an quận Hải Châu trả lại cho chị H là có căn cứ.

Đối với 01 thẻ bảo hiểm y tế mang tên Nguyễn Quốc N và và 01 nón bảo hiểm, không liên quan đến hành vi phạm tội nên Cơ quan CSĐT Công an quận Hải Châu trả lại cho anh Nguyễn Quốc M (anh ruột của N) là có căn cứ.

Đối với 02 chiếc xà beng bấy đinh bằng kim loại màu nâu, dài khoảng 60cm, một đầu dẹp, một đầu uốn cong; 01 máy cắt cầm tay nhãn hiệu Total Angle Grinder, màu xanh, dài 30cm là công cụ, phương tiện phạm tội nhưng không còn giá trị sử dụng nên cần tuyên tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 đĩa CD-R màu vàng, lưu hình ảnh các dấu vết đường vân thu giữ tại hiện trường và 01 tờ giấy khổ A4 do Nguyễn Quốc N viết có nội dung “thư tuyệt mệnh” cần tiếp tục lưu trữ trong hồ sơ vụ án.

Đối với đề nghị của Vị đại diện Việm kiểm sát tại phiên tòa hôm nay về tội danh, các điểm, khoản, điều luật; các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đều phù hợp với nhận định của HĐXX nên chấp nhận.

Về án phí: Bị cáo Nguyễn Quốc N phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và DSST theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Quốc N phạm tội “Trộm cắp tài sản” và tội “Hủy hoại tài sản”.

1.1 Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 173; điểm e khoản 1 Điều 52, điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Nguyễn Quốc N 04 (Bốn) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giam, ngày 25/3/2023.

1.2 Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 178; điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Nguyễn Quốc N 02 (Hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giam, ngày 25/3/2023.

1.3 Căn cứ Điều 55 Bộ luật hình sự, tổng hợp hình phạt buộc bị cáo Nguyễn Quốc N phải chấp hành là 06 (Sáu) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giam, ngày 25/3/2023.

2. Xử lý vật chứng: Căn cứ 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy 02 chiếc xà beng bấy đinh bằng kim loại màu nâu, dài khoảng 60cm, một đầu dẹp, một đầu uốn cong; 01 máy cắt cầm tay nhãn hiệu Total Angle Grinder, màu xanh, dài 30cm.

Vật chứng nói trên Chi cục Thi hành án dân sự quận Hải Châu, TP Đà Nẵng hiện đang tạm giữ theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 20 tháng 9 năm 2023.

3. Trách nhiệm dân sự: Căn cứ quy định tại căn cứ Điều Điều 584, Điều 585, Điều 589 Bộ luật dân sự.

Buộc Nguyễn Quốc N phải tiếp tục bồi thường cho Ngân hàng A số tiền 216.099.000đ(Hai trăm mười sáu triệu không trăm chín mươi chín ngàn đồng).

Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án mà người phải thi hành án không thực hiện nghĩa vụ trả số tiền nêu trên thì còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án tương ứng với thời gian chậm thi hành án theo mức lãi suất do các bên thỏa thuận nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật; nếu không có thỏa thuận về mức lãi suất thì thực hiện theo mức lãi suất quy định tại điều 357 của Bộ luật Dân sự.

4. Về án phí: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30.12.2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Nguyễn Quốc N phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Buộc bị cáo Nguyễn Quốc N phải chịu án phí DSST 10.804.950đ (Mười triệu tám trăm lẻ bốn ngàn chín trăm năm mươi đồng).

5. Về quyền kháng cáo:

Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, ngày 21-9-2023. Người tham gia tố tụng vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo được kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được hoặc được niêm yết bản sao bản án theo quy định.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ