- Tranh chấp gì? án hình sự — "trộm cáp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lành Văn A phạm tội "Trộm cắp tài sản".
- Căn cứ chính? Bộ luật hình sự và điểm a; Điều 331 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG THỔ TỈNH LAI CHÂU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 111/2023/HS- ST Ngày: 29/9/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG THỔ TỈNH LAI CHÂU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Phương.
- Các hội thẩm nhân dân: Ông Tống Văn Chiên - Ông Lý Quang Minh
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Tuyên - Thư ký Toà án nhân dân huyện Phong Thổ
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Xuân - Kiểm sát viên
Ngày 29/9/2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 110/2023/TLST - HS, ngày 18/9/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 127/2023/QĐXXST - HS ngày 18/9/2023 đối với bị cáo:
Lành Văn A (tên gọi khác: không), sinh năm: 1994; nơi sinh: huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu.
Nơi ĐKHKTT: Bản Lang 2, xã Bản Lang, huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu; nghề nghiệp: Tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Thái; giới tính: nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; bố đẻ ông Lành Văn É sinh năm: 1958 và mẹ đẻ bà Tao Thị Liên (đã chết); bị cáo có vợ Giàng Mì Pơ, sinh năm: 1996 và có 02 con, con lớn sinh năm: 2018, con nhỏ nhất sinh năm: 2020;
Tiền án: 01 tiền án. Tại bản án số: 16/2020/HS-ST ngày 23/11/2020 của Tòa án nhân dân huyện Phong Thổ tỉnh Lai Châu xử phạt bị cáo 09 tháng tù về tội: Trộm cắp tài sản. (chưa được xóa án tích).Tiền sự: không.
Nhân thân: Tại bản án số: 87/2023/HS-ST ngày 11/8/2023 của Tòa án nhân dân huyện Phong Thổ tỉnh Lai Châu xử phạt bị cáo 02 năm 03 tháng tù về tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý.
Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 31/3/2023 đến ngày 06/4/2023 được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Đến ngày 12/7/2023 bị cáo bị bắt tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện Phong Thổ cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Anh Vàng Văn Mừng, sinh năm 1981; Địa chỉ: Bản Hợp 1, xã Bản Lang, huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu (vắng mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
Chị Nông Thị Sao, sinh năm 1984; Địa chỉ: Bản Nà Cúng, xã Bản Lang, huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lành Văn A có một tiền án về tội: Trộm cắp tài sản chưa được xóa án tích. Đến khoảng 19 giờ ngày 29/6/2023 Lành Văn A đi đến khu vực lán ruộng của Anh Vàng Văn Mừng có địa chỉ bản Hợp 1, xã Bản Lang, huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu để trộm cắp tài sản. A quan sát không có ai ở khu vực lán ruộng, A đã trộm cắp 02 con ngỗng của anh Lành Văn A. Sau khi trộm cắp được 02 con ngỗng A cho ngỗng vào bao tải lấy tại khu vực lán nhà anh Mừng, sau đó mang đi tiêu thụ. Trên đường mang ngỗng đi tiêu thụ A có gặp anh Mừng, nhưng anh Mừng chưa phát hiện ra hành vi trộm cắp của A, A tiếp tục di chuyển đến nhà chị Nông Thị Sao có địa chỉ bản Nà Cúng, xã Bản Lang, huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu để bán 02 con ngỗng cho chị Sao. Tại đây A nói dối chị Sao về nguồn gốc 02 con ngỗng là của gia đình A nên A mang đi bán. Chị Sao mua 02 con ngỗng của A với giá 460.000 đồng. Đến khoảng 20 giờ cùng ngày thì anh Mừng phát hiện bị mất 02 con ngỗng và đã nghi ngờ A trộm cắp nên đến nhà A để hỏi A có trộm cắp ngỗng nhà mình không, A thừa nhận đã trộm cắp 02 con ngỗng của anh, nên anh Mừng yêu cầu A dẫn anh đến nhà chị Sao để anh lấy lại 02 con ngỗng. Khi A và anh Mừng đến nhà chị Sao để hỏi 02 con ngỗng, chị Sao đồng ý trả lại cho anh Mừng 02 con ngỗng, A thỏa thuận với chị Sao là trả lại cho chị 160.000 đồng còn 300.000 đồng thì A trả sau, chị Sao đồng ý.
Tại bản kết luận định giá tài sản số: 21/KL - HĐ ĐGTS ngày 17/7/2023 của Hội đồng định giá tài sản huyện Phong Thổ kết luận: 01 con ngỗng màu trắng có trọng lượng 05 kg trị giá 467.000 đồng; 01 con ngỗng màu nâu có trọng lượng 2,3 kg trị giá 191.000 đồng; Tổng giá trị 02 con ngỗng là 658.000 đồng.
Vật chứng thu giữ: Thu giữ 02 con ngỗng, Cơ quan điều tra đã trao trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp anh Vàng Văn Mừng.
Vật chứng còn lại của vụ án là: 01 bao tải màu cam (bao tải chứa đựng 02 con ngỗng) hiện đang được lưu giữ tại kho vật chứng Chi cục thi hành án dân sự huyện Phong Thổ.
Bản cáo trạng số: 75/CT - VKSPT ngày 18/9/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ đã truy tố bị cáo Lành Văn A về tội: “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 - Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo về tội danh cũng như điều luật áp dụng. Sau khi xem xét đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo. Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 - Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Lành Văn A từ 09 tháng đến 01 năm 03 tháng tù. Căn cứ Điều 56 Bộ luật hình sự. Đề nghị tổng hợp hình phạt của bản án số: 87/2023 /HS -ST ngày 11/8/2023 của Tòa án nhân dân huyện Phong Thổ đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm, nên không đề nghị giải quyết.
Về vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 - Bộ luật hình sự; Điểm a, c khoản 2 Điều 106 - Bộ luật tố tụng hình sự. Đề nghị tịch thu tiêu hủy 01 bao tải màu cam do không còn giá trị sử dụng.
Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 173- Bộ luật Hình sự đối với bị cáo. Về án phí hình sự sơ thẩm, đề nghị Hội đồng xét xử miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Bị cáo không bổ sung ý kiến gì thêm cũng không có ý kiến gì và nhất trí với bản cáo trạng, không tranh luận với bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Phong Thổ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ, Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra truy tố, đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa vắng mặt bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan. Hội đồng xét xử (HĐXX) xét thấy hồ sơ đã có đầy đủ lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, giữa các lời khai không mâu thuẫn với nhau nên không ảnh hưởng đến việc giải quyết nội dung vụ án. Căn cứ vào Điều 292; Điểm d khoản 2 Điều 308 - Bộ luật tố tụng hình sự, HĐXX quyết định vẫn tiến hành xét xử theo thủ tục chung.
[3] Về hành vi phạm tội của bị cáo Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Ngày 29/6/2023 tại lán gia đình anh Vàng Văn Mừng thuộc bản Hợp 1, xã Bản Lang, huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu, Lành Văn A đã trộm cắp 02 con ngỗng có trọng lượng 7,3 kg, sau khi trộm cắp được tài sản bị cáo mang bán cho chị Nông Thị Sao với giá 460.000 đồng. Sau đó Cơ quan điều tra đã thu lại 02 con ngỗng trao trả cho bị hại. Tại các bản kết luận định giá của Hội đồng định giá tài sản huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu kết luận: 02 con ngỗng có trọng lượng 7,3 kg trị giá 658.000 đồng. Bị cáo có một tiền án về tội: “Trộm cắp tài sản” chưa được xóa án tích lại tiếp tục phạm tội, giá trị tài sản chiếm đoạt là 658.000 đồng dưới 2.000.000 đồng. Như vậy hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173- Bộ luật hình sự. Vì vậy cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ tỉnh Lai Châu truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173- Bộ luật hình sự là có căn cứ đúng quy định của pháp luật.
[4] Đánh giá hành vi của bị cáo HĐXX nhận thấy: Bị cáo là người đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, bị cáo đã lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác gây mất trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo nhận thức rất rõ việc lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo coi thường pháp luật cố ý thực hiện hành vi phạm tội.
[5] Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[6] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra truy tố và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, là người dân tộc thiểu số sống ở vùng sâu vùng xa, nên nhận thức pháp luật còn có phần hạn chế. Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[7] Xét về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu, bản thân là người nghiện chất ma túy bị cáo không chịu lao động làm ăn chân chính thực hiện hành vi phạm tội nhiều lần, vì vậy cần có một mức án nghiêm khắc đối với bị cáo, phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội, đồng thời cũng có tác dụng giáo dục phòng ngừa chung cho toàn xã hội.
[8] Về hình phạt bổ sung: Xét về điều kiện kinh tế của bị cáo còn khó khăn, nên Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 173 - Bộ luật hình sự
[9] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không yêu cầu bị cáo bồi thường, nên HĐXX không đề cập giải quyết.
[10] Về vật chứng: 01 bao tải màu cam do không còn giá trị sử dụng, nên tịch thu tiêu hủy.
[11] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo là người dân tộc thiểu số sống ở khu vực đặc biệt khó khăn theo Quyết định số: 612/QĐ-UBDT ngày 16/9/2021 của Ủy ban dân tộc về phê duyệt thôn đặc biệt khó khăn vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2025, tại phiên tòa bị cáo đã đề nghị miễn án phí hình sự sơ thẩm, nên Hội đồng xét xử chấp nhận miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
[12] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định tại các Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự.
[13] Về tổng hợp hình phạt của bản án: Ngày 11/8/2023 bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Phong Thổ xử phạt 02 năm 03 tháng tù về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy. Căn cứ khoản 1 Điều 56 Bộ luật hình sự, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án.
[14] Về các vấn đề khác: Đối với chị Nông Thị Sao là người mua 02 con ngỗng của bị cáo, tuy nhiên chị Sao không biết đó là tài sản rộm cắp, nên loại trừ trách nhiệm hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Lành Văn A phạm tội "Trộm cắp tài sản".
1. Về Hình phạt:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 173; Điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38, 56 - Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Lành Văn A 09 (chín) tháng tù, tổng hợp 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù của bản án số: 87/2023/HS -ST ngày 11/8/2023 của Tòa án nhân dân huyện Phong Thổ. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 03 (ba) năm tù, bị cáo được khấu trừ 06 ngày tạm giữ của bản án số: 87/2023/HS-ST (từ ngày 31/3/2023 đến ngày 06/4/2023). Thời hạn thi hành hình phạt tù của bị cáo tính từ ngày 12/7/2023.
2. Về vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47- Bộ luật hình sự và điểm a, c khoản 2 Điều 106 - Bộ luật tố tụng hình sự.
- Tịch thu tiêu hủy 01 bao màu cam.
(Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng ngày 20/9/2023 giữa Cơ quan điều tra Công an huyện Phong Thổ với Chi cục THADS huyện Phong Thổ).
3. Về án phí: Căn cứ vào Điều 135, 136 - Bộ luật tố tụng hình sự; Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQHQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án. Miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng cho bị cáo.
4. Quyền kháng cáo: Căn cứ vào các Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./. Nơi nhận:
| - TAND Tỉnh - VKS tỉnh, huyện - THA dân sự - Cơ quan THAHS,CQĐT - Bị cáo, Bị hại, - Người có QLNVLQ - Sở Tư pháp - Công bố trên Cổng thông tin điện tử của Tòa án. - Lưu HS - TA . THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Phương THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Phương |