- Tranh chấp gì? án hình sự — "võ thanh hải và đồng phạm - phạm tội cướp giật tài sản (điều 171 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Võ Thanh H và Lê Trọng N phạm tội “Cướp giật tài sản”.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 101 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 111/2023/HS-ST Ngày: 02.6.2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Hoa
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Kim Liên - Cán bộ hưu trí
2. Bà Lê Thị Khanh - Nguyên Hiệu trưởng Trường THCS Trung Mỹ Tây 1, huyện Hóc Môn
- Thư ký phiên tòa: Bà Nội Thị Hảo - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Thanh Bình - Kiểm sát viên.
Ngày 02 tháng 6 năm 2023, Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 130/2023/TLST-HS ngày 16 tháng 5 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 137/2023/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 5 năm 2023, đối với các bị cáo:
1. Võ Thanh H, sinh ngày 26/9/2004 tại Bà Rịa Vũng Tàu; Giới tính: nam; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: không đăng ký; Chỗ ở: Nhà không số, tổ 20, ấp Tây Lân, xã B, huyện H, Thành phố H; Nghề nghiệp: không; Trình độ văn hóa: 5/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Võ Khắc T và bà Nguyễn Thị Kim H; chưa có vợ con; Nhân thân: Ngày 21/7/2022, bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hóc Môn ra quyết định khởi tố bị can về tội “Cướp giật tài sản” trong một vụ án khác; Tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị bắt từ ngày 09/7/2022 cho đến nay; hiện đang tạm giam tại nhà tạm giữ công an huyện Hóc Môn; bị cáo có mặt tại phiên tòa.
2. Lê Trọng N, sinh năm 2002 tại Cà Mau; Giới tính: nam; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp Đập Sậy, xã T, huyện H, tỉnh V; Nghề nghiệp: không; Trình độ văn hóa: 9/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn T và bà Võ Thị Út E; chưa có vợ con; Nhân thân: Ngày 16/6/2020 bị Tòa án nhân dân huyện Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”; Tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị bắt từ ngày 13/7/2022 cho đến nay; hiện đang tạm giam tại nhà tạm giữ công an huyện Hóc Môn; bị cáo có mặt tại phiên tòa.
* Bị hại:
1. Ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1993. (vắng mặt)
Thường trú: Thôn Trung Thành, xã Y, huyện C, tỉnh N.
Chỗ ở: 1/8 ấp 7, xã X, huyện H, Thành phố H.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Ông Nguyễn Đình Q, sinh năm 1994. (vắng mặt)
Thường trú: Thôn Trung Thành, xã Y, huyện C, tỉnh N.
Chỗ ở: 1/8 ấp 7, xã X, huyện H, Thành phố H.
2. Bà Nguyễn Thị B, sinh năm: 1983. (vắng mặt)
Thường trú: GP9, tổ 72, khu phố 6, phường A, quận B, Thành phố H.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do không có tiền tiêu xài nên Võ Thanh H rủ Lê Trọng N đi cướp giật tài sản của người đi đường thì N đồng ý. Khoảng 22 giờ 30 phút ngày 09/7/2022, H điều khiển xe máy biển số 88S5-1714 chở N lưu thông trên đường Phan Văn Đối đến chợ Bà Điểm. Khi đến trước số 43/14 Phan Văn Đối, ấp Tiền Lân 1, xã Bà Điểm, huyện Hóc Môn, H phát hiện phía trước Nguyễn Đình Quân điều khiển xe máy biển số 54N6-0757 chở Nguyễn Văn Đ ngồi sau đang sử dụng điện thoại di động hiệu OPPO RENO Z5G nên H điều khiển xe chở N áp sát vào bên trái xe của Q để N dùng tay phải giật điện thoại của anh Đ rồi H điều khiển xe tăng tốc độ bỏ chạy. Anh Q truy hô đuổi theo thì xe của H va quẹt với người đi đường làm H té xuống đường bị anh Q bắt giữ giao Công an xã lập biên bản phạm tội quả tang. Riêng N bỏ chạy thoát đến ngày 13/7/2022 bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hóc Môn bắt giữ.
Kết luận định giá tài sản số 124/KL-HĐĐGTS ngày 24/8/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự, Ủy ban nhân dân huyện Hóc Môn kết luận: 01 điện thoại di động hiệu OPPO RENO Z5G màu đen, số tiền: 3.000.000 đồng.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hóc Môn, H, N đã khai nhận hành vi phạm tội như trên.
Vật chứng thu giữ:
- 01 điện thoại di động hiệu OPPO RENO Z5G màu đen. Đây là tài sản hợp pháp của Nguyễn Văn Đ nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hóc Môn đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại cho bị hại Đ.
- 01 điện thoại di động hiệu OPPO A52 là tư vật của H.
- 01 điện thoại di động hiệu OPPO là tư vật của N.
- 01 xe máy hiệu FAVOUR màu đen có biển số 88S5-1714, số máy VTT1P52FMH-Z006241, số khung RRKWCH4UM7X006241. Kết luận giám định của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hồ Chí Minh xác định số khung, số máy không thay đổi. Xác minh biển số 88S5-1714 do Nguyễn Thị B (HKTT: Trung Xuân, Vạn Yên, Mê Linh, thành phố Hà Nội) đứng tên chủ sở hữu, hiện bà B đã chuyển hộ khẩu về địa chỉ GP9, tổ 72, khu phố 6, phường 15, quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh. Xác minh tại địa phương hiện bà B không có mặt tại địa phương, đi đâu làm gì không rõ. Làm việc với Võ Thanh H trình bày, xe này H mua trên mạng xã hội, khi mua không có giấy tờ. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hóc Môn đã đăng báo tìm chủ sở hữu nhưng chưa có kết quả;
Về dân sự: bị hại đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu gì khác.
Tại Bản cáo trạng số 145/CT-VKS-HS ngày 15 tháng 5 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, Tp. Hồ Chí Minh đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn để xét xử các bị cáo Võ Thanh H và Lê Trọng N về tội “Cướp giật tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị tuyên các bị cáo Võ Thanh H và Lê Trọng N phạm tội “Cướp giật tài sản”;
Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 171, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 90, Điều 91, khoản 1 Điều 101, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Võ Thanh H từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù.
Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 171, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lê Trọng N từ 03 năm đến 04 năm tù.
Trả lại cho bị cáo H 01 điện thoại di động hiệu OPPO A52 và bị cáo N 01 điện thoại di động hiệu OPPO.
Giao xe máy hiệu FAVOUR màu đen có biển số 88S5-1714, số máy VTT1P52FMH-Z006241, số khung RRKWCH4UM7X006241 cho Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hóc Môn xử lý theo thẩm quyền.
Các bị cáo Võ Thanh H và Lê Trọng N khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã nêu và xin được hưởng mức án nhẹ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Hóc Môn, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án là hợp pháp.
Tại phiên tòa, các bị cáo Võ Thanh H và Lê Trọng N khai nhận: Vì mục đích vụ lợi cá nhân, nên vào ngày 09/7/2022, tại trước số 43/14 Phan Văn Đối, ấp Tiền Lân 1, xã Bà Điểm, huyện Hóc Môn, bị cáo H điều khiển xe gắn máy chở bị cáo N thực hiện hành vi cướp giật 01 điện thoại di động hiệu OPPO RENO Z5G màu đen trị giá 3.000.000 đồng của bị hại Nguyễn Văn Đ.
Hành vi sử dụng phương tiện xe gắn máy để cướp giật tài sản và nhanh chóng tẩu thoát của các bị cáo thuộc trường hợp “Dùng thủ đoạn nguy hiểm” là tình tiết định khung hình phạt được quy định tại điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự.
Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với các vật chứng cùng các tài liệu thể hiện tại hồ sơ vụ án, phù hợp với Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn đã truy tố. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở pháp lý để kết luận các bị cáo Võ Thanh H và Lê Trọng N phạm tội “Cướp giật tài sản”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ Luật Hình Sự của Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam.
Hành vi phạm tội của các bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm sở hữu tài sản của công dân, mà còn gây mất an ninh trật tự tại địa phương tạo ra một dư luận xấu trong nhân dân. Do đó, cần có mức án nghiêm khắc tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội mà các bị cáo đã gây ra, phải cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm cải tạo, giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử cũng xem xét về nhân thân, tính chất mức độ và hậu quả của hành vi, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo khi lượng hình.
Về nhân thân bị cáo Võ Thanh H:
Ngày 21/7/2022, bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hóc Môn ra quyết định khởi tố bị can về tội “Cướp giật tài sản” trong một vụ án khác.
Tiền án, tiền sự: không.
Về nhân thân bị cáo Lê Trọng N:
Ngày 16/6/2020 bị Tòa án nhân dân huyện Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
Tiền án, tiền sự: không.
Tình tiết giảm nhẹ: Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên cho các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự là phù hợp.
Tình tiết tăng nặng: không.
Về xử lý vật chứng:
- Đối với 01 điện thoại di động hiệu OPPO A52 và 01 điện thoại di động hiệu OPPO, các bị cáo không dùng vào việc phạm tội nên Hội đồng xét xử xét thấy cần trả lại cho các bị cáo.
- Đối với 01 xe máy hiệu FAVOUR màu đen có biển số 88S5-1714, số máy VTT1P52FMH-Z006241, số khung RRKWCH4UM7X006241, Hội đồng xét xử xét thấy giao xe này cho Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hóc Môn đăng tải trên các phương tiện thông tin đại chúng trong thời hạn 06 tháng để truy tìm chủ sở hữu hợp pháp đối với chiếc xe nêu trên. Nếu có người xuất trình đủ tài liệu, chứng cứ chứng minh là chủ sở hữu hợp pháp thì trả lại xe cho họ. Trong trường hợp quá thời hạn 06 tháng mà không có người nào đến nhận thì tịch thu, nộp vào ngân sách nhà nước.
Về trách nhiệm dân sự: không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Án phí hình sự sơ thẩm: các bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố các bị cáo Võ Thanh H và Lê Trọng N phạm tội “Cướp giật tài sản”.
1. Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 90, Điều 91, khoản 1 Điều 101, Điều 38 Bộ luật Hình sự;
Xử phạt bị cáo Võ Thanh H 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù.
Thời hạn tù được tính từ ngày 09.7.2022.
2 Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự;
Xử phạt bị cáo Lê Trọng N 03 (ba) năm tù.
Thời hạn tù được tính từ ngày 13.7.2022.
3. Trả lại cho bị cáo H 01 điện thoại di động hiệu OPPO A52 và bị cáo Nhân 01 điện thoại di động hiệu OPPO.
Giao 01 xe máy hiệu FAVOUR màu đen có biển số 88S5-1714, số máy VTT1P52FMH-Z006241, số khung RRKWCH4UM7X006241 cho Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hóc Môn đăng tải trên các phương tiện thông tin đại chúng trong thời hạn 06 tháng để truy tìm chủ sở hữu hợp pháp đối với chiếc xe nêu trên. Nếu có người xuất trình đủ tài liệu, chứng cứ chứng minh là chủ sở hữu hợp pháp thì trả lại xe cho họ. Trong trường hợp quá thời hạn 06 tháng mà không có người nào đến nhận thì tịch thu, nộp vào ngân sách nhà nước.
(Vật chứng của vụ án do Chi cục thi hành án dân sự huyện Hóc Môn đang quản lý theo Quyết định chuyển vật chứng số 28/2023/QĐ-VKS-HS ngày 06/01/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn).
4. Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Mỗi bị cáo chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc niêm yết.
| Nơi nhận: - VKSND Tp.HCM; - Sở Tư pháp Tp.HCM; - VKSND huyện Hóc Môn; - Cơ quan điều tra công an H. HM; - Chi cục THADS H.HM; - Bị cáo; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Hồng Hoa |