vanban.org

Bản án 111/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử : Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị Diễm L

Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Thị Diễm L được ly hôn với ông Bùi Văn C Về con chung: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Trần Thị Diễm L xin ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử : Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị Diễm L
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT
TỈNH ĐĂK LĂK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 111/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 12 - 7 - 2023
V/v tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐĂK LĂK

- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Thị Kim Cúc.

Các hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lê Văn Tập

2. Ông Bùi Ngọc Thảo

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Văn Muôn – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đăk Lăk.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Hồng Thắm – Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 7 năm 2023, tại phòng xử án - Toà án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 191/2023/TLST-HNGĐ, ngày 14 tháng 3 năm 2023 về việc “Tranh chấp ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 100/2023/QĐXXST –HNGĐ ngày 12 tháng 6 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 108/2023/QĐST-HNGĐ ngày 28 tháng 6 năm 2023 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Trần Thị Diễm L - 1980

Địa chỉ: 47/15 đường Đ, phường TC, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. (có đơn xin xét xử vắng mặt)

2. Bị đơn: Ông Bùi Văn C – sinh năm 1973

Địa chỉ: 410/4 đường P, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk . (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

*Nguyên đơn, bà Trần Thị Diễm L trình bày:

Bà L và ông Bùi Văn C có tìm hiểu, chung sống và đăng ký kết hôn vào ngày 31/12/2003 tại UBND phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk trên cơ sở tự nguyện. Ông bà chung sống hạnh phúc một thời gian thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm, không hòa hợp, gây ra đánh đập nhau, không có tiếng nói chung. Hiện nay bà và ông C đã sống ly thân từ năm 2015 đến nay. Nay, xét thấy tình cảm giữa hai vợ chồng không còn và không thể tiếp tục duy trì mối quan hệ hôn nhân. Vì vậy, bà L yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột giải quyết cho bà được ly hôn với ông Bùi Văn C.

Về con chung: Trong quá trình chung sống bà Trần Thị Diễm L và ông Bùi Văn C có 1 con chung là cháu Bùi Trung N sinh ngày 12/3/2005. Hiện cháu đã đủ tuổi trưởng thành việc cháu ở với ai là quyền của cháu.

Về tài sản chung và nợ chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

*Bị đơn ông Bùi Văn C: Tòa án đã thực hiện tống đạt các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật nhưng ông C vẫn vắng mặt không có lý do và không có ý kiến phản hồi đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

*Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột trình bày:

Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn khởi kiện của bà Trần Thị Diễm L. Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Thị Diễm L được ly hôn với ông Bùi Văn C. Về con chung: Cháu Bùi Trung N sinh ngày 12/3/2005 đã đủ tuổi trưởng thành nên việc ở với ai là quyền của cháu. Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy:

[1] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn bà Trần Thị Diễm L yêu cầu ly hôn với ông Bùi Văn C, địa chỉ cư trú tại phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, thì đây là vụ án “Tranh chấp ly hôn” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.

Bị đơn ông Bùi Văn C đã được Tòa án tiến hành triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Nguyên đơn bà Trần Thị Diễm L có đơn xin xét xử vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.

Về nội dung vụ án:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Thị Diễm L và ông Bùi Văn C tự nguyện tìm hiểu, đủ điều kiện kết hôn và đã đăng ký kết hôn vào ngày 31/12/2003 tại UBND phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk trên cơ sở tự nguyện nên đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp.

Bà Trần Thị Diễm L và ông Bùi Văn C đã chung sống hạnh phúc một thời gian thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm, không hòa hợp, gây ra đánh đập nhau, không có tiếng nói chung. Hiện nay ông bà đã sống ly thân từ năm 2015 đến nay. Xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nên bà L đã nộp đơn đề nghị giải quyết xin ly hôn với ông C. Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tiến hành triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng ông C vẫn vắng mặt nên Tòa án không tiến hành hòa giải được.

Qua xác minh tại chính quyền địa phương. Đại diện chính quyền địa phương cho biết:“Ông Bùi Văn C có cư trú tại địa chỉ 410/4 P, phường T, thành phố B. Về mâu thuẫn vợ chồng thì theo chính quyền địa phương không nắm được, chỉ biết vợ chồng ông C và bà L đã không ở với nhau từ lâu, khoảng năm 2015 đến nay. Còn cụ thể có mâu thuẫn như thế nào thì địa phương không nắm rõ”.

Hội đồng xét xử xét thấy, quan hệ hôn nhân được xây dựng trên cơ sở tự nguyện của hai bên, việc ông Bùi Văn C không đến tham gia vào các buổi hòa giải và phiên xét xử của Tòa, đã thể hiện việc ông C không có ý định hàn gắn mối quan hệ hôn nhân này, từ đó cho thấy cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy Hội đồng xét xử xét thấy, cần chấp nhận đơn xin ly hôn của bà Trần Thị Diễm L, cho bà L được ly hôn với ông Bùi Văn C.

Về con chung: Trong quá trình chung sống, bà Trần Thị Diễm L và ông Bùi Văn C có 01 con chung là cháu Bùi Trung N sinh ngày 12/3/2005. Hiện cháu N đã đủ tuổi trưởng thành nên việc cháu ở với ai là quyền của cháu. Bà L không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết do đó Hội đồng xét xử không xem xét.

Về tài sản chung và nợ chung: Đương sự tự thỏa thuận và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Nguyên đơn bà Trần Thị Diễm L phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định, bị đơn ông Bùi Văn C không phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228, Điều 266, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Căn cứ: Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình.

Căn cứ: Điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án

Tuyên xử : Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị Diễm L

1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Thị Diễm L được ly hôn với ông Bùi Văn C

2. Về con chung:

Cháu Bùi Trung N - sinh ngày 12/3/2005 đã đủ tuổi trưởng thành nên việc ở với ai là quyền của cháu, Tòa án không giải quyết.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Đương sự tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.

4. Về án phí: Bà Trần Thị Diễm L phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm; được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) tạm ứng án phí mà Trần Thị Diễm L đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số: AA/2022/0001403 ngày 06/3/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Buôn Ma Thuột.

Về quyền kháng cáo: Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ