- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị Mỹ H.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH AN GIANG Bản án số: 111/2023/HNGĐ-ST Ngày: 27/6/2023 V/v “Ly hôn, t/c về nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: bà Nguyễn Hoài Lâm
Các Hội thẩm nhân dân: ông Trần Đức và bà Diệp Thị Thu Nguyệt.
- Thư ký phiên tòa: bà Huỳnh Tiểu Ngọc – Là Thư ký của Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn: bà Bùi Phương Anh – Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 6 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 165/2023/TLST-HNGĐ ngày 07/4/2023 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 101/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 23/5/2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 87/2023/QĐST-HNGĐ ngày 13/6/2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: chị Lê Thị Mỹ H, sinh năm 1986.
Địa chỉ thường trú: 1/2A đường N, phường M, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang.
Địa chỉ liên lạc: số 16 đường L, phường M, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang.
- Bị đơn: anh Phạm Văn Â, sinh năm 1983
Địa chỉ: ấp T, xã V, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang.
Nguyên đơn chị H có mặt. Bị đơn anh  vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Nguyên đơn chị Lê Thị Mỹ H trình bày:
Qua một thời gian tìm hiểu, chị với anh Phạm Văn  quyết định tổ chức đám cưới vào năm 2010, làm thủ tục đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường M, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang. Từ khi bắt đầu sống chung, thời gian đầu vợ chồng sống hạnh phúc tuy nhiên chỉ được thời gian ngắn thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân do khác biệt về quan điểm sống, anh  là người không có trách nhiệm với gia đình, thường xuyên ăn nhậu, đi làm không đưa tiền phụ chị trong sinh hoạt gia đình, con cáu học hành để một mình chị phải xoay sở, gánh vác mọi việc trong nhà. Vợ chồng cũng vì những chuyện này mà cãi nhau nhiều hơn. Chị đã cố gắng vì con mà tiếp tục sống cũng như cho anh  nhiều cơ hội để thay đổi nhưng không có kết quả. Từ năm 2019 mặc dù còn ở chung nhà nhưng chị với anh  mỗi người ngủ một phòng và đến tháng 09/2022 thì chính thức sống ly thân với nhau. Nhận thấy tình cảm không còn, không thể tiếp tục quay lại sống chung với anh Âu được nữa nên chị H yêu cầu giải quyết như sau:
+ Về quan hệ hôn nhân: chị Lê Thị Mỹ H xin được ly hôn với Phạm Văn Â.
+ Về quan hệ con chung: có 01 con chung tên Phạm Mỹ A sinh ngày 28/7/2010 hiện nay đang sống với chị H. Sau ly hôn chị H yêu cầu được tiếp tục nuôi con, không yêu cầu cấp dưỡng.
+ Về tài sản chung và nợ chung: không có.
- Bị đơn anh Phạm Văn Â: Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật cho anh  nhưng từ khi Tòa án thụ lý vụ án đến nay anh  vắng mặt và không có văn bản nào thể hiện ý kiến đối với yêu cầu của chị H.
- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát:
+ Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong thời hạn chuẩn bị xét xử:
Qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến thời điểm hiện tại, nhận thấy Thẩm phán đã chấp hành đúng quy định tại Điều 48 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 như: Xác định đúng quan hệ tranh chấp, thụ lý và giải quyết theo quy định tại Điều 28 và Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự 2015. Quá trình thụ lý Thẩm phán đã thực hiện đầy đủ khi tiến hành lập hồ sơ vụ án, thu thập chứng cứ, lấy lời khai của đương sự, tống đạt và niêm yết hợp lệ các thông báo và quyết định, thời hạn chuẩn bị xét xử đúng theo quy định của pháp luật.
+ Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký tại phiên tòa:
Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về xét xử sơ thẩm vụ án.
+ Về chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn đã thực hiện đúng, đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại Điều 70, 71 Bộ luật tố tụng dân sự.
Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do nên vi phạm điều 70, 72 Bộ luật tố tụng dân sự.
+ Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 8, 9, 56, 81, 82, 83 và 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, tuyên:
Về hôn nhân: chị H được ly hôn với anh Â.
Về con chung: giao cháu A cho chị H nuôi, anh  không cấp dưỡng.
Về tài sản chung, nợ chung: không xem xét.
Chị H phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
[1.1] Đây là tranh chấp hôn nhân và gia đình về ly hôn và nuôi con. Bị đơn anh Phạm Văn  có đăng ký hộ khẩu thường trú tại ấp T, xã V, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang, căn cứ vào quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 tranh chấp này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn.
Bị đơn anh Phạm Văn  đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh Â.
Về nội dung tranh chấp:
Chị Lê Thị Mỹ H và anh Phạm Văn  chung sống với nhau từ năm 2010 có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật tại Ủy ban nhân dân phường M, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang; được cấp giấy chứng nhận kết hôn số 140, ngày 16/9/2010. Đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp, phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 8 và khoản 1 Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Xét yêu cầu xin ly hôn của chị Lê Thị Mỹ H, thấy: trong quá trình sống chung với nhau, là một người chồng, trụ cột trong gia đình nhưng anh  không làm tròn trách nhiệm của mình. Mặc dù có đi làm nhưng anh  không đưa tiền lương cho chị H để trang trải chi phí sinh hoạt gia đình, con cái học hành để mặc chị H một mình xoay sở, ngoài ra anh  còn thường xuyên ăn nhậu. Từ những việc đó đã nảy sinh mâu thuẫn dẫn đến vợ chồng thường xuyên cãi nhau. chị H đã cho anh  rất nhiều cơ hội nhưng anh  vẫn không thay đổi dẫn đến tình cảm của chị H đối với anh  không còn. Đến tháng 9/2022, chị H quyết định sống ly thân cho đến nay.
Trong quá trình giải quyết Tòa án có tiến hành thông báo hòa giải nhằm mục đích động viên, hàn gắn nhưng anh  vắng mặt và không có văn bản nào thể hiện nguyện vọng muốn được hàn gắn quan hệ vợ chồng với chị H để xây dựng hạnh phúc gia đình và chăm sóc con. Hội đồng xét xử xét thấy, tình cảm vợ chồng giữa chị và anh  không còn, tình trạng hôn nhân mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó có đủ căn cứ để áp dụng Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị H.
Về quan hệ con chung: qua chứng cứ chị H cung cấp thì chị H và anh  có 01 con chung tên Phạm Mỹ A sinh ngày 28/7/2010. Tại biên bản lấy ý kiến ngày 08/3/2023 nguyện vọng của cháu Mỹ A là được sống cùng với mẹ sau khi ba mẹ ly hôn. Chị H cũng đồng ý với ý kiến của cháu Mỹ A. Trong quá trình giải quyết, anh  cũng không có văn bản nào thể hiện ý kiến tranh chấp về phần con chung. Xét thấy, có đủ căn cứ để giao con chung Mỹ A cho chị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. anh  không phải cấp dưỡng nuôi con do chị H không yêu cầu.
Về tài sản chung và nợ chung: không có.
Từ những phân tích trên chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn là phù hợp.
Về án phí: chị H là nguyên đơn nên phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: khoản 1 điều 28, điều 35, Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 9, điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 và khoản 1 điều 88 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị Mỹ H.
- Về quan hệ hôn nhân: chị Lê Thị Mỹ H được ly hôn với anh Phạm Văn Â.
Giấy chứng nhận kết hôn số 140, ngày 16/9/2010 của Ủy ban nhân dân phường M, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang không còn giá trị pháp lý.
- Về quan hệ con chung:
Giao con chung Phạm Mỹ A sinh ngày 28/7/2010 cho chị Lê Thị Mỹ H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục.
Anh Phạm Văn  không phải cấp dưỡng nuôi con.
Chị Lê Thị Mỹ H và anh Phạm Văn  cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở nhau trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định
- Về tài sản chung và nợ chung: không có. Tuy nhiên sau khi bản án này có hiệu lực pháp luật nếu có nguyên đơn xuất trình chứng cứ chứng minh nợ chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân thì chị Lê Thị Mỹ H và anh Phạm Văn  phải liên đới chịu trách nhiệm với tư cách đồng bị đơn trong vụ án dân sự khác.
2. Về án phí: chị Lê Thị Mỹ H phải chịu 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0011674 ngày 07/4/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang nên đã nộp xong.
3. Về quyền kháng cáo:
- Chị Lê Thị Mỹ H được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
- Anh Phạm Văn  được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án tại trụ sở Ủy ban nhân dân xã (thị trấn) nơi cư trú để yêu cầu xem xét phúc thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh An Giang; - VKS huyện Thoại Sơn; - Chi Cục THADS huyện Thoại Sơn; - UBND phường Mỹ Bình, TP.LX; - Các đương sự; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Hoài Lâm |