- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Dương Thị H - Tô Hữu T"
- Tòa quyết gì? Điểm a khoản 1 Điều 24; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 “Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án”.
- Căn cứ chính? Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN S TỈNH TUYÊN QUANG ————— | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 111/2023/HNGĐ-ST Ngày 28/12/2023 V/v Ly hôn và tranh chấp về nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN S, TỈNH TUYÊN QUANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Việt Cường.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Phạm Văn Vượng.
2. Ông Ma Quốc Thể.
- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Trần Thị Minh Hà – Thư ký Tòa án nhân dân huyện S, tỉnh Tuyên Quang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện S, tỉnh Tuyên Quang tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Hữu Trí – Kiểm sát viên.
Ngày 28/12/2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện S, tỉnh Tuyên Quang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 363/2023/TLST-HNGĐ ngày 03/10/2023 về việc “Tranh chấp Hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 108/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 27/11/2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 76/2023/QĐST-HNGĐ ngày 13/12/2023 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Dương Thị H – Sinh năm: 1999.
Địa chỉ: Xóm R, xã T, huyện P, tỉnh Thái Nguyên.
Vắng mặt (Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
2. Bị đơn: Anh Tô Hữu T – Sinh năm: 2001.
Địa chỉ: Thôn B, xã T, huyện S, tỉnh Tuyên Quang
Vắng mặt (Đã được Tòa án triệu tập hợp lệ 02 lần).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo Đơn khởi kiện, các lời khai tại Tòa án, nguyên chị Dương Thị H có quan điểm trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh T trước khi kết hôn được tự do tìm hiểu, tự nguyện tiến tới hôn nhân và có đăng ký kết hôn ngày 12/4/2021 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện S, tỉnh Tuyên Quang. Sau khi kết hôn, chị và anh T cùng nhau làm ăn sinh sống tại xóm R, xã T, huyện P, tỉnh Thái Nguyên. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, sau đó phát sinh mâu thuẫn. Lý do mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, vợ chồng tH xuyên cãi chửi lẫn nhau, gia đình hai bên nhiều lần hòa giải nhưng vợ chồng vẫn không thể sống hòa hợp với nhau. Anh T đã chuyển về nhà bố mẹ đẻ sinh sống tại thôn B, xã T, huyện S, tỉnh Tuyên Quang sinh sống. Chị và anh T đã sống ly thân với nhau từ tháng 3/2023 đến nay. Chị H xác định không còn tình cảm với anh T, vợ chồng không thể tiếp tục chung sống cùng nhau được nữa, đề nghị Tòa án giải quyết cho chị H ly hôn với anh T để mỗi người có một cuộc sống riêng.
Về con chung: Trong quá trình chung sống, vợ chồng chị H và anh T có một con chung.
Cháu Tô Gia B – Sinh ngày: 02/8/2021.
Chị H có quan điểm sẽ nhận trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu B đến khi cháu B trưởng thành, đủ 18 tuổi. Không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và công nợ: Chị Dương Thị H không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Toà án đã tiến hành thụ lý vụ án và tiến hành các bước theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tòa án đã triệu tập và niêm yết các văn bản tố tụng hợp lệ đối với anh Tô Hữu T nhiều lần nhưng anh T không đến Tòa án để làm việc. Tòa án đã tiến hành xác minh tại địa phương. Qua xác minh cho thấy, anh Tô Hữu T là công dân có đăng ký hộ khẩu tH trú tại thôn B, xã T, huyện S, tỉnh Tuyên Quang. Quá trình chung sống tại xóm R, xã T, huyện P, tỉnh Thái Nguyên, vợ chồng xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm trong cuộc sống. Anh T đã chuyển về thôn B, xã T, huyện S, tỉnh Tuyên Quang và sống ly thân với chị H từ tháng 3/2023 cho đến nay. Hiện nay, anh T đi làm ăn xa, thỉnh thoảng mới về thăm nhà.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện S, tỉnh Tuyên Quang phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Hội đồng xét xử, Thư ký là đúng quy định của pháp luật. Việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án không có gì sai phạm, bị đơn không chấp hành các quy định của pháp luật kể từ khi thụ lý đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án.
Ý kiến quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện S, tỉnh Tuyên Quang về việc giải quyết vụ án:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc “Tranh chấp Hôn nhân và gia đình” của chị Dương Thị H đối với anh Tô Hữu T.
2. Về quan hệ hôn nhân: Xử chị Dương Thị H và anh Tô Hữu T ly hôn.
3. Về con chung: Giao cháu Tô Gia B – Sinh ngày: 02/8/2021 cho chị Dương Thị H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi cháu B trưởng thành, đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật, kể từ ngày 28/12/2023. Anh Tô Hữu T không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Anh Tô Hữu T không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Trên cơ sở lợi ích của con, khi cần thiết các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc cấp dưỡng nuôi con.
4. Về tài sản, công nợ: Đương sự không yêu cầu giải quyết nên không đề nghị xem xét, giải quyết.
5. Về án phí; Quyền kháng cáo: Theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết.
- Về quan hệ tranh chấp: Chị Dương Thị H và anh Tô Hữu T là vợ chồng, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Quá trình chung sống, vợ chồng xảy ra mâu thuẫn nên chị H khởi kiện về việc xin ly hôn với anh T và yêu cầu giải quyết về con chung. Do vậy, quan hệ pháp luật tranh chấp được xác định là “Ly hôn và tranh chấp về nuôi con” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về thẩm quyền giải quyết: Do đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình quy định tại Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; bị đơn có đăng ký hộ khẩu tH trú tại xã T, huyện S, tỉnh Tuyên Quang nên Tòa án có thẩm quyền giải quyết là Tòa án nhân dân huyện S, tỉnh Tuyên Quang theo điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Dương Thị H và anh Tô Hữu T xác lập quan hệ vợ chồng với nhau theo đúng các quy định của pháp luật về điều kiện kết hôn và có đăng ký kết hôn ngày 12/4/2021 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện S, tỉnh Tuyên Quang nên đây là hôn nhân hợp pháp. Trong quá trình chung sống, vợ chồng có phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, tH xuyên xảy ra cãi chửi nhau, vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 3/2023 đến nay. Chị H xác định không còn tình cảm với anh T.
HĐXX thấy rằng, thực tế tình trạng hôn nhân giữa chị H và anh T cuộc sống chung vợ chồng không hòa hợp, mâu thuẫn đã kéo dài, không thể khắc phục được nữa, vợ chồng ly thân với nhau một thời gian nhưng chị H và anh T cũng không thể hòa giải, hàn gắn để quay về chung sống với nhau, mục đích hôn nhân không đạt được. Nên cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị H đối với anh T.
Về con chung: Trong quá trình chung sống, vợ chồng chị H và anh T có một con chung.
Cháu Tô Gia B – Sinh ngày: 02/8/2021.
Chị H có nguyện vọng, nhận trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu B.
Hội đồng xét xử nhận thấy: Cháu B đang ở độ tuổi rất cần sự quan tâm, giáo dục một cách tH xuyên của cha, mẹ để đảm B sự phát triển đầy đủ về thể chất, tinh thần, sức khỏe và nhân cách. Từ khi chị H và anh T sống ly thân với nhau, cháu B sinh sống cùng chị H. Chị H có nơi cư trú rõ ràng, công việc, thu nhập ổn định, vẫn đảm B việc nuôi dưỡng, chăm sóc con chung đầy đủ và đảm B được về thời gian, điều kiện sinh hoạt, học tập cho con. Quá trình nuôi con, chị H và anh T không vi phạm nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung, không làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của con. Anh T hiện tại đang đi làm ăn xa, thường xuyên không có mặt tại địa phương nên không thể đảm bảo được việc chăm sóc, nuôi dương cháu B.
Từ những phân tích trên, căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con chung, để ổn định cuộc sống, không làm xáo trộn môi trường sống và học tập của cháu B, cần chấp nhận nguyện vọng của chị H về việc nuôi con chung. Giao cháu B cho chị H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi cháu B trưởng thành, đủ 18 tuổi.
Anh T không phải cấp dưỡng nuôi con và có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Về tài sản chung và công nợ: Đương sự không yêu cầu giải quyết nên HĐXX không xem xét, giải quyết.
Về án phí: Chị Dương Thị H là nguyên đơn nên phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng:
Khoản 1 Điều 51; Khoản 1 Điều 56; khoản 1, khoản 3 Điều 81; khoản 1, khoản 3 Điều 82; khoản 2 Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Khoản 1 Điều 28; Điểm a khoản 1 Điều 35; Điểm a khoản 1 Điều 39; Khoản 4 Điều 147; Điều 228; Điều 271; Khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Điểm a khoản 1 Điều 24; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 “Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án”.
Xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc “Tranh chấp Hôn nhân và gia đình” của chị Dương Thị H đối với anh Tô Hữu T.
2. Về quan hệ hôn nhân: Xử chị Dương Thị H và anh Tô Hữu T ly hôn.
3. Về con chung: Giao cháu Tô Gia B – Sinh ngày: 02/8/2021 cho chị Dương Thị H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi cháu B trưởng thành, đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật, kể từ ngày 28/12/2023. Anh Tô Hữu T không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Anh Tô Hữu T không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Trên cơ sở lợi ích của con, khi cần thiết các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc cấp dưỡng nuôi con.
4. Về án phí: Chị Dương Thị H phải chịu 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm ly hôn nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí sơ thẩm đã nộp là 300.000đ theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: AA/2021/0002944 ngày 04/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện S, tỉnh Tuyên Quang (Giấy thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 000000693590 ngày 03/10/2023 của Công ty Cổ phần thanh toán quốc gia Việt Nam).
5. Quyền kháng cáo: Chị Dương Thị H và anh Tô Hữu T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND huyện S; - TAND tỉnh Tuyên Quang; - Chi cục THADS huyện S; - Ủy ban nhân dân xã T; - Lưu hồ sơ vụ án, lưu vp. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Việt Cường |