vanban.org

Bản án 111/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Anh Đặng Ngọc V được ly hôn chị Lê Thị Ánh S.

Về con chung: Giao cho anh Đặng Ngọc V được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung chưa thành niên là Đặng Ngọc Bảo Kh – sinh ngày 28/02/201x cho đến khi đủ 18 tuổi. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho chị Lê Thị Ánh S. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án ly hôn, nuôi con giữa anh Đặng Ngọc V và chị Lê Thị Ánh S"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Anh Đặng Ngọc V được ly hôn chị Lê Thị Ánh S.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐÔ LƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH NGHỆ AN
Bản án số: 111/2023/HNGĐ-ST
Ngày 28 – 4 – 2023
“V/v ly hôn, nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔ LƯƠNG, TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hồng Hà.

Các Hội thẩm nhân dân: - Ông Lê Văn Ngọc.

- Ông Trần Văn Hải.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thuỳ Dung - Thẩm tra viên của Tòa án nhân dân huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đô Lương tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Tiến Dũng – Kiểm sát viên

Ngày 28 tháng 4 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình sơ thẩm thụ lý số 30/2023/HNGĐ-ST ngày 01 tháng 02 năm 2023 về việc “Ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 47/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 4 năm 2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Đặng Ngọc V. Sinh năm 199x. Địa chỉ: Xóm A, xã XS, huyện ĐL, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt tại phiên toà (Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

- Bị đơn: Chị Lê Thị Ánh S. Sinh năm 199x. Địa chỉ: Xóm A, xã XS, huyện ĐL, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt tại phiên toà (Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai nguyên đơn là anh Đặng Ngọc V trình bày như sau:

- Về quan hệ hôn nhân: Anh Đặng Ngọc V kết hôn với chị Lê Thị Ánh S vào ngày 22/01/2016 tại Uỷ ban nhân dân xã TĐ, huyện TC, tỉnh Nghệ An. Việc kết hôn giữa anh Đặng Ngọc V và chị Lê Thị Ánh S là trên tinh thần tự nguyện của hai bên, không bị ai ép buộc. Vợ chồng sống hạnh phúc từ khi kết hôn đến năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống và sống ly thân từ năm 2017 đến nay. Đến nay, anh Đặng Ngọc V thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị Tòa án giải quyết cho anh Đặng Ngọc V được ly hôn chị Lê Thị Ánh S.

- Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân, anh Đặng Ngọc V và chị Lê Thị Ánh S có 01 con chung là Đặng Ngọc Bảo Kh – sinh ngày 28/02/201x. Anh Đặng Ngọc V đề nghị Tòa án giao con chung cho anh Đặng Ngọc V được quyền trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và anh Đặng Ngọc V không yêu cầu chị Lê Thị Ánh S phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung.

- Về tài sản chung, nợ chung: Anh Đặng Ngọc V không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Theo bản tự khai ghi ngày 04/4/2023, bị đơn là chị Lê Thị Ánh S trình bày như sau: Chị Lê Thị Ánh S đồng ý với ý kiến trình bày của anh Đặng Ngọc V về mối quan hệ hôn nhân, thời gian kết hôn, nguyên nhân mâu thuẫn, con chung. Từ năm 2017 đến nay, chị Lê Thị Ánh S và anh Đặng Ngọc V sống ly thân. Chị Lê Thị Ánh S đồng ý ly hôn với anh Đặng Ngọc V.

- Về con chung: Chị Lê Thị Ánh S đồng ý để anh Đặng Ngọc V được quyền trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung là Đặng Ngọc Bảo Kh, sinh ngày 28/02/201x.

- Về tài sản chung, nợ chung: Chị Lê Thị Ánh S không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An sau khi nhận xét, đánh giá việc chấp hành pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, các đương sự và phân tích nội dung vụ án; đã đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng các Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

- Về quan hệ hôn nhân: Cho anh Đặng Ngọc V được ly hôn chị Lê Thị Ánh S.

- Về con chung: Giao con chung chưa thành niên là Đặng Ngọc Bảo Kh, sinh ngày 28/02/201x cho anh Đặng Ngọc V được quyền trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi đủ 18 tuổi. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho chị Lê Thị Ánh S.

- Về tài sản chung, nợ chung: Anh Đặng Ngọc V, chị Lê Thị Ánh S đều không yêu cầu Toà án giải quyết nên không xem xét.

- Về án phí: Buộc anh Đặng Ngọc V phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi xem xét các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án đã được xem xét, thẩm tra tại phiên tòa, lời trình bày của nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ trang chấp, thẩm quyền giải quyết: Bị đơn là chị Lê Thị Ánh S có đăng ký hộ khẩu thường trú tại xóm A, xã XS, huyện ĐL, tỉnh Nghệ An. Anh Đặng Ngọc V có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết việc ly hôn, nuôi con với chị Lê Thị Ánh S, do đó đây là vụ án ly hôn, tranh chấp nuôi con chung. Tòa án nhân dân huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về tố tụng: Vụ án ly hôn giữa anh Đặng Ngọc V và chị Lê Thị Ánh S, Tòa án phải tiến hành thu thập chứng cứ nên thuộc trường hợp Viện kiểm sát phải tham gia phiên tòa theo quy định tại khoản 2 Điều 21 Bộ luật tố tụng dân sự.

Tại phiên toà, nguyên đơn, bị đơn vắng mặt nhưng nguyên đơn, bị đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, Hội đồng xét xử thấy rằng quá trình giải quyết vụ án thì nguyên đơn, bị đơn đã có ý kiến trình bày đầy đủ, việc vắng mặt của nguyên đơn, bị đơn tại phiên toà không làm ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án. Do đó căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định đưa vụ án ra xét xử theo quy định pháp luật.

Về quan hệ hôn nhân: Anh Đặng Ngọc V và chị Lê Thị Ánh S kết hôn ngày 22/01/2016 trên cơ sở tự nguyện, không bị ai ép buộc và có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã TĐ, huyện TC, tỉnh Nghệ An, do đó hôn nhân giữa anh Đặng Ngọc V và chị Lê Thị Ánh S là hợp pháp.

Hội đồng xét xử thấy chị Lê Thị Ánh S, anh Đặng Ngọc V sống ly thân từ năm 2017 đến nay và cả hai người đều không chăm lo cho nhau, không người nào có biện pháp để giữ gìn hạnh phúc gia đình, điều đó cho thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được vì vậy căn cứ vào quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Đặng Ngọc V và giải quyết cho anh Đặng Ngọc V được ly hôn chị Lê Thị Ánh S.

Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân, anh Đặng Ngọc V và chị Lê Thị Ánh S có 01 (Một) con chung là Đặng Ngọc Bảo Kh – sinh ngày 28/02/201x. Trong quá trình giải quyết vụ án, anh Đặng Ngọc V và chị Lê Thị Ánh S đều đề nghị Tòa án giao con chung chưa thành niên là Đặng Ngọc Bảo Kh cho anh Đặng Ngọc V được quyền trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng; ngoài ra cháu Đặng Ngọc Bảo Kh cũng có nguyện vọng được sinh sống cùng với anh Đặng Ngọc V; hơn nữa xét từ năm 2017 đến nay, cháu Đặng Ngọc Bảo Kh sinh sống ổn định với anh Đặng Ngọc V tại xóm A, xã XS, huyện ĐL, tỉnh Nghệ An. Do đó Hội đồng xét xử thấy rằng để đảm bảo quyền lợi và sự phát triển lâu dài của cháu Đặng Ngọc Bảo Kh nên cần giao cho anh Đặng Ngọc V được quyền trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung chưa thành niên là cháu Đặng Ngọc Bảo Kh cho đến khi đủ 18 tuổi.

Về yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung: Trong quá trình giải quyết vụ án, anh Đặng Ngọc V không yêu cầu chị Lê Thị Ánh S phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung, do đó Hội đồng xét xử tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho chị Lê Thị Ánh S.

Về tài sản chung và nợ chung: Trong quá trình giải quyết vụ án, anh Đặng Ngọc V và chị Lê Thị Ánh S đều không yêu cầu Toà án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Anh Đặng Ngọc V phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Đặng Ngọc V.

1. Về quan hệ hôn nhân: Anh Đặng Ngọc V được ly hôn chị Lê Thị Ánh S.

2. Về con chung: Giao cho anh Đặng Ngọc V được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung chưa thành niên là Đặng Ngọc Bảo Kh – sinh ngày 28/02/201x cho đến khi đủ 18 tuổi.

Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho chị Lê Thị Ánh S.

Bên không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

Bên không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định tại khoản 5 Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Nguyên đơn, bị đơn đều không yêu cầu Toà án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

4. Trường hợp Quyết định này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

5. Về án phí: Anh Đặng Ngọc V phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) do anh Đặng Ngọc V đã nạp tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002834 ngày 31/01/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An.

6. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án theo quy định pháp luật.

Cỡ chữ