- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn do một bên ở nước ngoài — án hôn nhân và gia đình — "Phạm Hoàng T xin ly hôn Mạc Thị H"
- Tòa quyết gì? Áp dụng: Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân & Gia đình; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 37, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 và khoản 3 Điều 228, Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH 13 ngày 25/11/2015; Ngh…
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Luật Phí và lệ phí
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 111 /2023/HNGĐ-ST Ngày: 04/5/2023. “V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Mai Hoa
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Ngô Thị Thơm
Bà Dương Thị Kim Hồng
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Quốc Phong - Thư ký TAND tỉnh Hải Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Hậu - Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 5 năm 2023, tại trụ sở, Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 62/2023/TLST-HNGĐ ngày 28/02/2023, về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 88/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 31/3/2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 79/2023/QĐST-HNGĐ ngày 17/4/2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Phạm Hoàng T, sinh năm 1987, Địa chỉ: Thôn C, xã T, thành phố H, tỉnh Hải Dương.
- Bị đơn: Chị Mạc Thị H, sinh năm 1989, Địa chỉ trước khi xuất cảnh: Thôn C, xã T, thành phố H, tỉnh Hải Dương; Nơi cư trú hiện nay: Hàn Quốc.
Anh T, chị H đều vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn xin ly hôn, bản tự khai, biên bản lấy lời khai anh Phạm Hoàng T trình bày:
- Về quan hệ vợ chồng: Anh và chị Mạc Thị H tự do tìm hiểu, tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T (nay là thành phố H), tỉnh Hải Dương vào ngày 25/4/2012. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc được vài năm thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, tính tình không hợp dẫn đến vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi vã. Cuộc sống vợ chồng bế tắc, không có hạnh phúc, năm 2016 anh đã làm đơn xin ly hôn chị H ra Tòa án, nhưng được gia đình hai bên động viên anh đã rút đơn để vợ chồng tiếp tục nuôi dạy con cái. Năm 2020, chị H sang Hàn Quốc để lao động và từ đó đến nay chưa về nước, vợ chồng không còn quan tâm đến nhau. Nay anh xác định tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống chung không có hạnh phúc đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị H.
- Về con chung: Anh và chị H có 02 con chung là Phạm Nhất S, sinh ngày 01/6/2013 và Phạm Khánh H1, sinh ngày 29/10/2015. Hiện cả hai cháu đang ở cùng anh. Khi ly hôn, anh có nguyện vọng được nuôi dưỡng hai con chung và tự nguyện không yêu cầu chị H cấp dưỡng tiền nuôi con chung cùng anh. Hiện nay, anh có công việc ổn định, thu nhập hàng tháng từ 10.000.000 đồng đến 12.000.000 đồng và bố mẹ anh luôn hỗ trợ anh chăm sóc các cháu.
- Về tài sản chung, vay nợ: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Bị đơn: Quá trình giải quyết vụ án, anh T không cung cấp được địa chỉ của chị H tại Hàn Quốc nên Tòa án đã xác minh qua gia đình chị H, đồng thời yêu cầu gia đình cung cấp địa chỉ của chị H. Bà Nguyễn Thị Q là mẹ đẻ chị H trình bày: Về thời điểm kết hôn, mâu thuẫn vợ chồng giữa anh T và chị H như anh T trình bày là đúng. Hiện nay, chị H đang làm việc tại Hàn Quốc, sau khi nhận được thông báo thụ lý và các văn bản của Tòa án, bà đã thông báo cho chị H biết về việc anh T có đơn xin ly hôn với chị và yêu cầu giải quyết việc nuôi dưỡng con chung. Quan điểm của chị H nhất trí ly hôn và đồng ý để anh T tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung đến khi trưởng thành, anh T không yêu cầu chị H cấp dưỡng nuôi con chung, chị Hiếu nhất trí. Chị Hiếu xác định vợ chồng không có tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Hiện nay, chị H đang đi làm xa nên chị Hiếu xin vắng mặt tại các buổi làm việc và phiên tòa, các văn bản Tòa án gửi cho chị H đề nghị gửi cho bà và bà sẽ có trách nhiệm thông báo cho chị Hiếu.
Tại phiên tòa: Nguyên đơn anh T có đơn xin xét xử vắng mặt và có quan điểm giữ nguyên yêu cầu khởi kiện; Bị đơn chị H vắng mặt tại phiên tòa không có lý do.
* Đại diện Viểm sát nhân dân tỉnh H phát biểu quan điểm:
Về việc tuân theo pháp luật: Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử và nguyên đơn chấp hành đúng, đầy đủ quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn chưa chấp hành đúng quy định Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về quan điểm giải quyết vụ án: Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình: Xử cho anh Phạm Hoàng T được ly hôn chị Mạc Thị H; Giao cho anh T trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chung Phạm Nhất S, sinh ngày 01/6/2013 và Phạm Khánh H1, sinh ngày 29/10/2015 cho đến khi trưởng thành. Chấp nhận sự tự nguyện của anh T không yêu cầu chị H cấp dưỡng tiền nuôi con chung; Về tài sản chung, vay nợ: Các đương sự không yêu cầu nên không phải giải quyết; Về án phí: Anh T phải chịu 300.000đồng án phí ly hôn sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương, Hội đồng xét xử nhận định:
. Về tố tụng:
Anh Phạm Hoàng T có đơn khởi kiện đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương giải quyết việc ly hôn giữa anh với chị Mạc Thị H. Chị H hiện đang sinh sống và lao động tại Đài Loan. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 37, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.
Trong quá trình giải quyết vụ án, anh T không cung cấp được địa chỉ của chị H tại Hàn Quốc. Theo hướng dẫn tại Công văn số 253/TANDTC-PC ngày 26/11/2018 của Tòa án nhân dân Tối cao, Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương đã yêu cầu anh T và gia đình chị H cung cấp địa chỉ, nhưng anh T không cung cấp được. Gia đình chị H xác định chị Hiếu vẫn thường xuyên liên lạc với gia đình, được thông báo về việc anh T có đơn xin ly hôn, chị H không cung cấp địa chỉ và không gửi ý kiến trình bày bằng văn bản cho Tòa án. Do vậy, áp dụng Công văn số 253/TANDTC-PC ngày 26/11/2018 của Tòa án nhân dân Tối cao, Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương tiến hành giải quyết vụ án theo thủ tục cố tình giấu địa chỉ.
Tại phiên tòa anh T có đơn xin xét xử vắng mặt, chị H vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt anh T, chị H.
. Về nội dung:
. Về quan hệ hôn nhân: Anh Phạm Hoàng T và chị Mạc Thị H được tự do tìm hiểu và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T (nay là thành phố H), tỉnh Hải Dương vào ngày 25/4/2012 là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc được vài năm thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, đến năm 2020 chị H sang Hàn Quốc làm việc đến nay chưa về nước. Vợ chồng sống ly thân từ năm 2020 cho đến nay. Anh T xác định tình cảm vợ chồng không còn và đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị H. Thông qua gia đình, chị H xác định do vợ chồng xa cách nên nảy sinh mâu thuẫn, chị H nhất trí ly hôn theo đề nghị của anh T. Xét thấy: Mâu thuẫn vợ chồng anh Tùng và chị H đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, Hội đồng xét xử xử cho anh T được ly hôn chị H là phù hợp với Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình.
. Về quan hệ con chung: Anh T, chị H có 02 con chung là Phạm Nhất S, sinh ngày 01/6/2013 và Phạm Khánh H1, sinh ngày 29/10/2015. Hiện hai cháu đang do anh T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Anh T có nguyện vọng được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung và tự nguyện không yêu cầu chị H cấp dưỡng tiền nuôi con, thông qua gia đình chị H có quan điểm nhất trí. Xét thấy, chị H hiện đang ở nước ngoài không có điều kiện trực tiếp nuôi dưỡng con chung, hiện tại hai con chung đang do anh T trực tiếp nuôi dưỡng và đều có nguyện vọng được tiếp tục ở cùng anh T, anh Tùng có thu nhập ổn định nên cần chấp nhận sự thỏa thuận của hai bên, giao cháu Phạm Nhất S và Phạm Khánh H1 cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con đủ 18 tuổi. Chấp nhận sự tự nguyện của anh T không yêu cầu chị H cấp dưỡng tiền nuôi con chung.
Chị H được quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở là phù hợp với quy định tại Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình.
. Về tài sản chung, vay nợ: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
. Về án phí: Anh T là nguyên đơn nên phải chịu án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định.
. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng: Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân & Gia đình; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 37, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 và khoản 3 Điều 228, Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH 13 ngày 25/11/2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho anh Phạm Hoàng T được ly hôn chị Mạc Thị H.
2. Về con chung: Giao cho anh Phạm Hoàng T tiếp tục trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chung Phạm Nhất S, sinh ngày 01/6/2013 và Phạm Khánh H1, sinh ngày 29/10/2015, thời gian từ tháng 5/2023 cho đến khi con chung tròn 18 tuổi. Chấp nhận sự tự nguyện của anh T không yêu cầu chị H cấp dưỡng tiền nuôi con chung.
Chị H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.
3. Về án phí: Anh Phạm Hoàng T phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Hải Dương theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số AA/2021/0003948 ngày 27/02/2023 (anh T đã nộp đủ án phí).
4. Về quyền kháng cáo: Anh T vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết. Chị H vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết./.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND tỉnh Hải Dương; - Cục THADS tỉnh Hải Dương; - UBND xã Tiền Tiến, TP. Hải Dương (để ghi vào sổ hộ tịch); - Lưu hồ sơ, VP, Tòa HC, Tòa GĐ&NCTN. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Mai Hoa |