- Tranh chấp gì? án hình sự — "111. Đinh Gia L 173 - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Đinh Gia L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 111/2022/HS-ST Ngày 16 - 8 - 2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phúc
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Đoàn Văn Rỹ
2. Bà Thái Thục Hiền
- Thư ký phiên tòa: Ông Trịnh Sơn Tùng – Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Bùi Đức Tuấn - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 8 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 60/2022/TLST-HS ngày 28 tháng 4 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 182/2022/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 8 năm 2022, đối với bị cáo:
Đinh Gia L; sinh năm 1996, tại Bình Định; nơi cư trú: Thôn XM, xã NH, thị xã AN, tỉnh BĐ; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đinh Xuân Đ và bà Lê Thị A; Vợ, con: chưa có; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/01/2022 đến nay (có mặt).
- Bị hại:
1. Chị Lê Thị Cẩm H, sinh năm 1986; nơi cư trú: Số 9 đường 909 TQB, Phường N, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)
2. Bà Bùi Thị Thanh B, sinh năm 1957; nơi cư trú: Số 9 đường 909 TQB, Phường N, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)
3. Anh Nguyễn Thành L1, sinh năm 1995; nơi cư trú (HKTT: Ấp HH, xã ĐHC, huyện CP, tỉnh AG; chỗ ở: 895A TQB, Phường N, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh). (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Đinh Gia L là đối tượng không có nghề nghiệp ổn định, sống lang thang. Do cần tiền tiêu xài, Đinh Gia L đã thực hiện các vụ trộm cắp tài sản trên địa bàn Quận 8, cụ thể như sau:
Vụ thứ 1: Vào khoảng 18 giờ 30 phút, ngày 20/8/2020, Đinh Gia L phát hiện cửa sân thượng nhà ông Lê Trường C tại số 9 đường 909 TQB, Phường N, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh không đóng cửa nên đã lén lút đột nhập vào để trộm cắp tài sản. L trèo lên sân thượng vào nhà rồi đi xuống cầu thang lầu 2 thì thấy 2 phòng ngủ cạnh cầu thang đều mở cửa. L đi vào phòng ngủ bên phải cầu thang lấy trộm 01 laptop HP ở trên bàn cạnh giường ngủ và 01 máy ảnh KTS cùng ống kính hiệu Nikon ở trên kệ phía dưới tivi của chị Lê Thị Cẩm H. Sau đó, L vào phòng ngủ đối diện lấy trộm số tiền 2.600.000 đồng ở trong ví đặt trên đầu giường của bà Bùi Thị Thanh B rồi đi lên sân thượng để trèo xuống đất tẩu thoát. Đến khoảng 19 giờ 30 phút cùng ngày, ông C cùng chị H và bà B phát hiện bị mất tài sản nên đến Công an Phường 5, Quận 8 trình báo.
Sau khi lấy được tài sản, L đi bộ đến đường LTK, Quận V, Thành phố Hồ Chí Minh (gần bệnh viện HV) bán 01 laptop HP và 01 máy ảnh KTS cùng ống kính hiệu Nikon cho một người đàn ông (không rõ lai lịch) với giá 1.800.000 đồng. Có được tiền, L đã tiêu xài cá nhân hết.
Tại bản Kết luận định giá tài sản số 57 ngày 09/9/2020 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự Quận 8, xác định giá trị còn lại của 01 laptop hiệu HP 820 G1 màu đen, core i5, ram 4GB là 3.150.000 đồng; 01 máy ảnh KTS hiệu Nikon D7200 là 8.000.000 đồng; 01 ống kính Nikon AF-S DX 18-140/3.5-5.6G ED VR là 2.750.000 đồng. Tổng giá trị tài sản bị mất là 16.500.000 đồng.
Vụ thứ 2: Vào khoảng đầu tháng 01/2022 (không nhớ rõ ngày), lúc 00 giờ 30 phút, Đinh Gia L phát hiện nhà anh Nguyễn Thành L1 tại số 895A TQB, Phường N, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh không đóng cửa sân thượng nên đột nhập vào nhà để trộm cắp tài sản. L trèo lên sân thượng rồi đi xuống cầu thang lầu 1 thì phát hiện phòng ngủ của anh L1 không đóng cửa nên L vào lấy trộm 01 điện thoại di động Iphone 4 để dưới sàn nhà cạnh cửa ra vào phòng ngủ và số tiền 2.000.000 đồng để trong hộp gỗ đặt cuối giường ngủ của anh L1. Sau khi lấy được tài sản, L đi lên sân thượng rồi trèo xuống đất tẩu thoát. Sau đó, L đem bán chiếc điện thoại trên cho một người đàn ông (không rõ lai lịch) tại trước số 260 Quốc lộ 50, Phường 6, Quận 8 với giá 50.000 đồng. Số tiền chiếm đoạt được L đã tiêu xài cá nhân hết.
Tại bản Kết luận định giá tài sản số 20 ngày 08/02/2022 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự Quận 8, kết luận: 01 điện thoại di động Iphone 4, 64GB có giá là 540.000 đồng.
Ngày 21/01/2022, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội phối hợp cùng tổ tuần tra Công an Phường 5, Quận 8 đi tuần tra đến trước số 892 TQB, Phường N, Quận B phát hiện Đinh Gia L có biểu hiện nghi vấn nên mời về làm việc.
Ngày 24/01/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an Quận 8 ra quyết định phục hồi điều tra vụ án hình sự, Quyết định bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự, Quyết định khởi tố bị can, đề nghị phê chuẩn khởi tố bị can đối với Đinh Gia L.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 8, Đinh Gia L đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nêu trên.
Trách nhiệm dân sự: Chị Lê Thị Cẩm H yêu cầu L bồi thường số tiền 29.000.000 đồng. Bà Bùi Thị Thanh B yêu cầu L bồi thường số tiền 2.600.000 đồng. Anh Nguyễn Thành L1 yêu cầu L bồi thường số tiền 2.500.000 đồng.
Tại bản Cáo trạng số 62/CT-VKSQ8 ngày 28/4/2022, Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố bị cáo Đinh Gia L về tội “Trộm cắp tài sản”, theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Đinh Gia L về tội “Trộm cắp tài sản”. Sau khi phân tích, đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; các điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Đinh Gia L từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Về trách nhiệm dân sự: buộc bị cáo bồi thường thiệt hại cho các bị hại.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, ăn năn hối cải và xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Quận 8, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai bị hại, người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, xác định vào khoảng 18 giờ 30 phút, ngày 20/8/2020, tại nhà số 9 đường 909 TQB, Phường N, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh, bị cáo Đinh Gia L có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 laptop hiệu HP 820 G1 màu đen; 01 máy ảnh KTS hiệu Nikon D7200; 01 ống kính Nikon của chị Lê Thị Cẩm H và số tiền 2.600.000 đồng của bà Bùi Thị Thanh B. Tiếp theo, vào khoảng đầu tháng 01/2022, lúc 00 giờ 30 phút, tại số 895A TQB, Phường N, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh, bị cáo Đinh Gia L lén lút chiếm đoạt 01 điện thoại di động hiệu Iphone 4, 64GB trị giá 540.000 đồng và số tiền 2.000.000 đồng của ông Nguyễn Thành L1. Tổng giá trị tài sản bị cáo chiếm đoạt của các bị hại là 19.040.000 đồng.
Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định về tội “Trộm cắp tài sản” như sau:
“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
…
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.”
Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi với lỗi cố ý, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của cá nhân được pháp luật bảo vệ. Như vậy, Hội đồng xét xử có căn cứ xác định hành vi của bị cáo Đinh Gia L đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Bị cáo đã thực hiện hai hành vi phạm tội liên tiếp thể hiện mức độ nguy hiểm của bị cáo và thái độ xem thường pháp luật, thuộc tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Xét tính nghiêm trọng của tội phạm mà bị cáo đã thực hiện, cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định bằng hình phạt tù có thời hạn nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người có ích, có ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống, ngăn ngừa phạm tội mới; đồng thời phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm trong xã hội.
Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” là có cơ sở, đúng người, đúng tội. Mức hình phạt mà Viện kiểm sát nhân dân Quận 8 đề nghị áp dụng đối với bị cáo là phù hợp, tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội nên có căn cứ chấp nhận. Tuy nhiên, trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Vì vậy, Hội đồng xét xử áp dụng các điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) để giảm nhẹ một phần hình phạt đối với bị cáo.
Xét thấy, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy bị cáo là lao động tự do, không có thu nhập, điều kiện kinh tế còn khó khăn, vì vậy, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: không có.
Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, bị hại chị Lê Thị Cẩm H yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 29.000.000 đồng, bà Bùi Thị Thanh B yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 2.600.000 đồng, anh Nguyễn Thành L1 yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 2.500.000 đồng. Xét thấy, thiệt hại xảy ra là do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra. Tại phiên tòa, bị cáo đồng ý bồi thường thiệt hại theo yêu cầu của các bị hại. Kể cả đối với bị hại chị Lê Thị Cẩm H yêu cầu số tiền cao hơn kết quả định giá, bị cáo cũng đồng ý bồi thường số tiền như bị hại yêu cầu. Xét thấy yêu cầu của các bị hại là phù hợp cũng như được bị cáo đồng ý, do đó Hội đồng xét xử căn cứ Điều 48 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và điều 589 của Bộ luật Dân sự, buộc bị cáo bồi thường cho các bị hại: chị Lê Thị Cẩm H số tiền 29.000.000 đồng, bà Bùi Thị Thanh B số tiền 2.600.000 đồng, anh Nguyễn Thành L1 số tiền 2.500.000 đồng.
Đối với những người mua tài sản do Đinh Gia L phạm tội mà có, do chưa xác định được lai lịch nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 8 không xử lý là phù hợp với quy định của pháp luật.
Về án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ quy định của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Đinh Gia L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 173, các điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt bị cáo Đinh Gia L 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 25/01/2022.
- Căn cứ vào Điều 48 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); các điều 357, 468, 589 của Bộ luật Dân sự.
Buộc bị cáo Đinh Gia L bồi thường cho chị Lê Thị Cẩm H số tiền 29.000.000 đồng, bà Bùi Thị Thanh B số tiền 2.600.000 đồng, anh Nguyễn Thành L1 số tiền 2.500.000 đồng, thi hành ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
- Căn cứ vào các điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Buộc bị cáo nộp 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm và 1.705.000 (một triệu bảy trăm lẻ năm ngàn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; các bị hại vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - VKS ND Quận 8; - VKS ND TP. HCM; - CQ ĐT CA Quận 8; - CQ THA HS CA Quận 8; - Nhà tạm giữ CA Quận 8; - Chi cục THA DS Quận 8; - Người tham gia tố tụng khác; - TA ND TP.HCM; - Sở Tư pháp TP.HCM; - PC53; - Lưu: HS, VT. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Phúc |