vanban.org

Bản án 111/2022/HS-ST — Hình sự

TAND Quận 4, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 28/11/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt: Lê Văn H 02 (hai) năm tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Thời hạn tù tính từ 22 tháng 8 năm 2022.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (hai trăm nghìn) đồng; Về quyền kháng cáo: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Gây rối trật tự công cộng - phạm tội gây rối trật tự công cộng (điều 318 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt: Lê Văn H 02 (hai) năm tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Thời hạn tù tính từ 22 tháng 8 năm 2022.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
THÀNH PHỐ Y

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 111/2022/HS-ST
Ngày: 28 – 11 -2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN X - THÀNH PHỐ Y

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Xuân Quỳnh

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Đinh Kim Hoàng

2. Bà Nguyễn Thị Đông Nguyệt

- Thư ký phiên tòa: Ông Tạ Mạnh Hùng - Thư ký Tòa án nhân dân Quận X, Thành phố Y.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận X tham gia phiên tòa:

Ông Nguyễn Minh Luân - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 11 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận X, Thành phố Y xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 120/2022/TLST-HS ngày 25 tháng 10 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 269/2022/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 11 năm 2022 đối với bị cáo:

Lê Văn H (tên gọi khác: không có); Giới tính: Nam; Sinh ngày 13 tháng 7 năm 1997 tại Thành phố Y; Nơi đăng ký thường trú: 109D/40/5 A, Phường B, Quận X, Thành phố Y; Nơi cư trú: Không nơi cư trú nhất định; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: Không biết chữ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Vĩnh T, sinh năm: 1976 và bà Lê Thị Ngọc T1, sinh năm: 1978. Hoàn cảnh gia đình: chưa có vợ, con.

Tiền sự: Không

Tiền án: Không

Bị cáo bị bắt, tạm giam từ ngày 22/8/2022 “có mặt”.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Khoảng 23 giờ 30 phút ngày 07/8/2019, Lê Văn Hđang đi làm tại khu vực chợ D, Quận E thì nghe Đặng Tống Gia F (sinh năm: 2005; HKTT: 111/9/5 H, Phường G, Quận X), Nguyễn Tuấn K (sinh năm: 1996; HKTT: 78/17 L, Phường M, Quận X), Vương Khải N (sinh năm: 2003; HKTT: 37/15 O, Phường P, Quận X), Nguyễn Thành Q (sinh năm: 2001; HKTT: 50/30 L, Phường M, Quận X), Lưu Công R (sinh năm: 2002; HKTT: 65/2 O, Phường P, Quận X), Trương Hoàng S, Mai Hoàng U và các đối tượng V, W, X (chưa rõ lai lịch) tụ tập lại nói đêm nay sẽ đánh nhau với nhóm Quận C. Sau khi làm xong, Lê Văn H nhờ bạn tên U (chưa rõ lai lịch) dùng xe gắn máy chở về khu vực công viên phía sau chung cư H2, Phường M, Quận X. Sau đó, H vào góc tường chung cư H2 lấy 01 bao hung khí bên trong có 04 cây đao, 01 cây chĩa đem ra công viên để cho Gia F, Tuấn K, Khải N, Thành Q, Công R, Hoàng S, Hoàng U, V, W, X làm hung khí chờ đánh nhau với nhóm Quận C.

Khoảng 01 giờ 30 ngày 08/8/2019, nhóm Quận C gồm khoảng 40 người cầm theo hung khí đi trên 20 xe gắn máy chạy sang Quận X, trong đó Nguyễn Văn Tùng U1 cầm 01 kiếm tự chế dài khoảng 60cm ngồi sau xe Wave đối tượng chưa rõ lai lịch điều khiển; Nguyễn Văn T3 chở Bùi Nguyễn Quốc B1 cầm theo cây chĩa dài 60cm, Nguyễn Nhật C1 chở Phúc G1 cầm theo 01 dao mã tấu dài 60cm. Khi đến khu vực phía sau chung cư H2, Quận X, nhìn thấy nhóm Quận X đang ngồi, Bùi Nguyễn Quốc B1 cùng E1, D1, Phúc K1, Lai Anh T4 xuống xe, cầm hung khí đuổi đánh nhóm Quận X. H, Hoàng S, Hoàng U, Tuấn K, Thành Q, Công R, Gia F, Đạt, N, E1 thấy vậy liền bỏ chạy vào hẻm. Nhóm Quận C đuổi theo không được nên quay trở ra đường F1, Quận X. Lúc này, H cầm chĩa, Hoàng S cầm 01 dao mã tẩu, Hoàng U cầm cục gạch ống trong hẻm cùng với nhiều đối tượng khác chạy ra đầu hẻm khiêu khích nhóm Quận C. Nhóm Quận C thấy vậy quay lại, dừng xe trước hẻm 170 F1, Phường M, Quận X. Nguyễn Nhật C1 hô hào ra hiệu cho đồng bọn biết nhóm Quận X đang ở trong hẻm. Nhóm Quận C liền cầm theo hung khí chạy xe, chạy bộ đuổi theo nhóm Quận X chạy vào hẻm. Tại đây, nhóm Quận X quay lại dùng hung khí tấn Q, nhóm Quận C đánh không lại nên bỏ chạy trở ra. H cầm chĩa, Hoàng S cầm mã tấu, Hoàng U cầm gạch ống tiếp tục đuổi đánh nhóm Quận C chạy ra đường F1, Quận X. Lúc này, 02 đối tượng nhóm Quận C đi xe gắn máy Raider bị té ngã nên bỏ xe chạy bộ, nhóm Quận C thấy vậy quay lại đánh giải vây thì nhóm Quận X tấn Q, nhóm Quận C tiếp tục quay đầu xe bỏ chạy. Đối tượng G1chở G2 chạy không kịp nên té ngã, cả hai bỏ xe Vario lại chạy bộ. G2 chạy thoát, đối tượng G1 bị nhóm Quận X đuổi kịp dùng chĩa tấn công nên bỏ chạy vào nhà dân để trốn. Nhóm Quận X dùng hung khí đập vào các xe Raider, Vario do nhóm Quận C bỏ lại rồi cùng đi về hẻm 170 F1, Quận X. Lê Văn H, Hoàng S, Hoàng U ném bỏ hung khí rồi giải tán. Nhóm Quận C thấy vậy cũng quay lại lấy 02 xe gắn máy Vario và Raider rồi cùng nhau chạy về. Nguyễn Văn Tùng U, Nguyễn Văn T3, Bùi Nguyễn Quốc B1, Nguyễn Nhật C1 cũng ném bỏ hung khí rồi đi về nhà.

Ngày 21/5/2020, Ủy ban nhân dân Phường M, Quận X nhận thấy vụ việc 02 nhóm thanh niên ngang nhiên cầm hung khí rượt đuổi đánh nhau, đập phá tài sản trên đường phố, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội tại địa phương và gây hoang mang, lo sợ cho người dân nên đã kiến nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra công an Quận X khởi tố vụ án để điều tra xử lý.

Ngày 28/7/2022, Tòa án nhân dân Quận X Thành phố Y đã xét xử, tuyên phạt tại bản án số 79/2022/HSPT đối với hành vi phạm tội của Nguyễn Văn T3, Bùi Nguyễn Quốc B1, Nguyễn Nhật N1, Trương Hoàng S, Mai Hoàng U về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Lê Văn H quá trình điều tra bỏ trốn đến ngày 22/8/2022 bị bắt theo quyết định truy nã. Quá trình phục hồi điều tra, Lê Văn H đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên. Về nguyên nhân xảy ra mâu thuẫn, H khai không rõ lý do nhưng khi nghe bạn bè rủ rê thì tham gia rượt đuổi đánh nhau với nhóm Quận C. H khai trước đó khoảng 01 tháng phát hiện tại góc tường chung cư H2 F1, Quận X có 01 bao hung khí bên trong có 04 cây đao và 01 cây chĩa, H không biết của ai nhưng tự lấy để cung cấp cho nhóm Quận X tham gia đánh nhau. Sau khi đuổi đánh với nhóm Quận C, H khai đã ném mất toàn bộ hung khí nên Cơ quan điều tra không thu hồi được.

Đối với Nguyễn Văn Tùng U quá trình điều tra đã bỏ trốn chưa bắt được, Cơ quan điều tra tiếp tục truy nã, khi nào bắt được sẽ xử lý sau.

Đối với các đối tượng nhóm Quận C có hành vi tham gia đánh nhau, gây rối gồm: Nguyễn Nhật A2 (14 tuổi 11 tháng), Nguyễn Thanh B2 (13 tuổi 10 tháng), Nguyễn Minh R (14 tuổi 05 tháng), Nguyễn Hoàng F (15 tuổi 10 tháng), Trương Quốc C2 (15 tuổi 01 tháng). Tính thời điểm phạm tội các đối tượng trên đều chưa đến 16 tuổi, căn cứ khoản 2 Điều 12 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, không phải chịu trách nhiệm hình sự về tội “Gây rối trật tự công cộng” nên Cơ quan điều tra đã không xử lý.

Đối với các đối tượng nhóm Quận C gồm: Minh Sứt, G2, Bé D2, Bé Đ2, E1 D1, Lai Anh T4, Lai Anh Ti, G1, G2, K.... và các đối tượng nhóm Quận X gồm: X, W, E1, V quá trình điều tra do không xác định được nhân thân, lai lịch nên không có cơ sở xử lý. Cơ quan điều tra đã ra thông báo truy tìm, khi nào có đủ căn cứ sẽ xem xét xử lý sau.

Đối với các đối tượng nhóm Quận X gồm: Nguyễn Tuấn K, Nguyễn Thành Q, Lưu Công R, Đặng Tống Gia F, Võ Thành E2, Vương Khải N, Lê Quốc E1 có hành vi tụ tập chờ nhóm của Bé Đ2 đến để đánh nhau. Tuy nhiên, khi các đối tượng nhóm Quận C cầm hung khí truy đuổi, tất cả đã hoảng sợ bỏ chạy về nhà, không tham gia đánh nhau với nhóm Quận C nên không phạm tội.

Đối với việc các đối tượng nhóm Quận X có hành vi đập phá 02 xe gắn máy Raider và Vario của các đối tượng nhóm Quận C. Quá trình điều tra, các đối tượng nhóm Quận C không trình báo, tự mang xe về sửa chữa nên Cơ quan điều tra không có căn cứ xử lý hành vi “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.

Vật chứng hiện đang tạm giữ: Không

Tại Bản cáo trạng số 102/CT-VKSQ4 ngày 20/10/2022 của Viện kiểm sát nhân dân Quận X truy tố Lê Văn H về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa:

Bị cáo khai nhận tòa bộ hành vi phạm tội như cáo trạng đã truy tố và xin giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận X trình bày lời luận tội: Bảo lưu quan điểm truy tố bị cáo theo cáo trạng 102/CT-VKSQ4 ngày 20/10/2022 của Viện kiểm sát nhân dân Quận X. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Lê Văn H mức án từ 02 (hai) năm tù đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Về xử lý vật chứng: không có gì giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Quận X, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận X, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Lê Văn H không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các quyết định, hành vi tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định pháp luật.

. Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo Lê Văn H thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản cáo trạng đã nêu. Qua lời khai của bị cáo, đối chiếu với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở để kết luận:

Khoảng 01 giờ 40 phút ngày 08/8/2019, tại trước hẻm 170 F1, Phường M, Quận X, chỉ vì những mâu thuẫn không rõ lý do, nhưng khi nghe bạn bè rủ rê thì bị cáo đã tham gia rượt đuổi đánh nhau với nhóm Quận C. Bị cáo Lê Văn H đã cung cấp hung khí là 04 cây đao, 01 cây chĩa cho nhóm Quận X, rồi cùng nhiều đối tượng khác của nhóm Quận X sử dụng hung khí nguy hiểm là dao mã tấu, đao, chĩa, gạch ống... rượt đuổi, đánh nhau với các đối tượng nhóm Quận C, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự trên địa bàn Phường M, Quận X . Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Gây rối trật tự công cộng” theo điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

. Xét thấy hành vi phạm tội của bị cáo làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự, an toàn xã hội ở địa phương, gây hoang mang cho quần chúng nhân dân. Vì vậy, cần có mức án nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung cho xã hội.

Lê Văn H quá trình điều tra đã bỏ trốn đến ngày 22/8/2022, bị cáo tự nguyện đầu thú. Quá trình phục hồi điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Lê Văn H đã khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải nên Hội đồng xét xử xét khi lượng hình cần xem xét áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

. Về xử lý vật chứng: Tất cả vật chứng đã được giải quyết tại Bản án số 79/2022/HSST ngày 28/7/2022 của Tòa án nhân dân Quận X.

. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 135 và Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt: Lê Văn H 02 (hai) năm tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Thời hạn tù tính từ 22 tháng 8 năm 2022.

- Căn cứ Điều 135 và Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (hai trăm nghìn) đồng;

2. Về quyền kháng cáo:

Bị cáo được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ