- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tội trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lưu Việt Đ phạm “Tội trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 1 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| ¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯ Bản án số: 111/2022/HS-ST Ngày: 08/9/2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 1, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Tôn Trung Tuấn
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Hiếu
2. Ông Nguyễn Đình Phúc
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Minh Anh – Thư ký Tòa án
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Thanh - Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 9 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 105/2022/TLST-HS ngày 16/8/2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 698/2022/QĐXXST-HS ngày 18/8/2022, đối với bị cáo:
Lưu Việt Đ; sinh năm: 1987; tại: Vĩnh Long; hộ khẩu thường trú: 17 Đường P, phường B, quận Bình Tân, Tp. Hồ Chí Minh; chỗ ở hiện nay: Không nơi cư trú ổn định; nghề nghiệp: Nhân viên giao hàng; trình độ văn hoá (học vấn): 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lưu Quốc V; và bà: Lê Thanh H; vợ Thái Thị Hoàng Ng; có 01 con (sinh năm 2016); tiền án: không; tiền sự: không; bị bắt, tạm giam ngày: 09/6/2022. (Có mặt)
- Bị hại: Chị Đỗ Thanh Th, sinh năm 1979, địa chỉ: Số 21 đường A, Phường 9, Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Nguyễn Thị S, sinh năm 1995, địa chỉ: 67B HV, Phường K, Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
[1] Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 11 giờ 30 phút, ngày 02/6/2022, Lưu Việt Đ điều khiển xe mô tô hiệu Honda, loại Airblade màu xám đen bạc, biển số 50N1 - 940.11 vào tầng hầm B4 của tòa nhà Vincom Center, số 72 Lê Thánh Tôn, phường Bến Nghé, Quận 1 để lấy đồ ăn giao cho khách. Khi vào bãi xe, Đ phát hiện thấy chiếc xe mô tô hiệu Honda, loại Lead biển số 59C3 - 237.97 của chị Đỗ Thanh Th đỗ tại đây và cốp xe không khóa cốp (bị hở) nên nảy sinh ý định trộm cắp. Lúc này Đ đi đến cởi áo khoác màu cam có chữ Shopee Food đang mặc, cột quanh bụng, bên trong mặc sẵn áo khoác màu xám có nón trùm sau đó dùng tay mở cốp lấy trộm 01 chiếc máy tính xách tay hiệu DELL và 01 chiếc máy tính hiệu Samsung Galaxy Book 10.6 và bỏ vào trong giỏ đựng thức ăn hiệu Shopee. Khoảng 18 giờ 30 cùng ngày, Đ điều khiển xe mang 02 chiếc máy tính đến cửa hàng máy tính tại số 19 Hùng Vương, Phường 4, Quận 5 bán cho chị Nguyễn Thị S với giá 7.000.000 đồng và đã tiêu xài cá nhân hết.
Qua truy xét, Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an Quận 1 đã bắt giữ được Lưu Việt Đ đưa về trụ sở Công an phường Bến Nghé lập hồ sơ chuyển Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 1 thụ lý.
Theo bản kết luận định giá tài sản số 115/KL-HĐĐGTS ngày 07/6/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Ủy ban nhân dân Quận 1, kết luận 01 máy tính xách tay hiệu DELL Model Latitude 7480 và 01 máy tính bảng hiệu Samsung Book 10.6 có tổng trị giá là 20.600.000 đồng. (BL: 18–21)
Quá trình điều tra, Lưu Việt Đ khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên. Lời khai của Đ phù hợp với lời khai bị hại, biên bản đối chất, kết quả thực nghiệm điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác mà Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 1 thu thập được. (BL: 58 – 60;108 – 113)
Đối với chị Nguyễn Thị S không biết tài sản do Đ bán là tài sản do phạm tội mà có. Lời khai của chị S phù hợp với lời khai của Đ nên Cơ quan điều tra không xử lý là có cơ sở.
Vật chứng vụ án gồm có:
- 01 máy tính xách tay hiệu DELL Model Latitude 7480 và 01 máy tính bảng hiệu Samsung Book 10.6 (đã thu hồi trả lại cho người bị hại là chị Đỗ Thanh Th, chị Th không có yêu cầu gì về dân sự).
- Thu giữ của Lưu Việt Đ:
+ 01 quần dài; 01 áo thun ngắn tay; 01 áo khoác dài tay, màu cam; 01 nón bảo hiểm; 01 túi màu cam có chữ Shopee (là trang phục Đ mặc khi thực hiện hành vi trộm cắp);
+ 01 điện thoại hiệu Samsung, màu trắng (Imei: 354813/60/740381/1);
+ 01 xe mô tô biển số 50N1 94011 (số khung: RLKF4104LZ001181; số máy: KF41E0009934). Qua xác minh do Đ đứng tên đăng ký sở hữu.
[2] Bản Cáo trạng số 109/CT-VKSQ1 ngày 15/8/2022 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 1 truy tố bị cáo Lưu Việt Đ về tội “Trộm cắp tài sản” theo Khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa,
Bị cáo Lưu Việt Đ khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng truy tố.
[3] Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo phạm tội “Trộm cắp tài sản” và áp dụng 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, cùng các tình tiết giảm nhẹ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại hoặc gây thiệt hại không lớn, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng quy định tại điểm s, h, i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo từ 09 tháng đến 12 tháng tù, phần dân sự đã giải quyết xong, 01 xe mô tô biển số 50N1 94011 (số khung: RLKF4104LZ001181; số máy: KF41E0009934) là phương tiện phạm tội, cần tịch thu sung quỹ nhà nước; 01 điện thoại hiệu Samsung, màu trắng (Imei: 354813/60/740381/1) không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo, 01 quần dài; 01 áo thun ngắn tay; 01 áo khoác dài tay, màu cam; 01 nón bảo hiểm; 01 túi màu cam có chữ Shopee (là trang phục Đ mặc khi thực hiện hành vi trộm cắp) không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
Bị cáo Lưu Việt Đ không tranh luận, bào chữa. Bị cáo Lưu Việt Đ nói lời sau cùng xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 1, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 1, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Lời khai nhận tội của bị cáo Lưu Việt Đ phù hợp với biên bản tiếp nhận nguồn tin về tội phạm, lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, vật chứng và các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được, có căn cứ xác định bị cáo Lưu Việt Đ đã có hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của bị hại chị Đỗ Thanh Th. Tài sản chiếm đoạt là 01 máy tính xách tay hiệu DELL Model Latitude 7480 và 01 máy tính bảng hiệu Samsung Book 10.6 có tổng trị giá là 20.600.000 đồng. Như vậy, có đủ cơ sở pháp lý kết luận bị cáo Lưu Việt Đ đã phạm “Tội trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Vì động cơ vụ lợi, bị cáo đã cố ý xâm phạm đến quyền sở hữu của người khác được pháp luật bảo vệ, ảnh hưởng đến an ninh trật tự xã hội thể hiện bị cáo rất liều lĩnh và xem thường pháp luật. Vì vậy, cần áp dụng khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo với hình phạt nghiêm, phù hợp với tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa.
Tuy nhiên khi quyết định hình phạt cần xem xét cho bị cáo tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội có tính cơ hội, gây thiệt hại không lớn, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng quy định tại điểm s, h, i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, nên giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Xét thấy hoàn cảnh của bị cáo khó khăn nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng:
- Bị hại chị Đỗ Thanh Th đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt và không có yêu cầu bồi thường gì khác; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Thị S tự nguyện giao nộp lại tài sản đã mua của bị cáo, chị không có yêu cầu bồi thường gì nên ghi nhận.
- 01 xe mô tô biển số 50N1 94011 (số khung: RLKF4104LZ001181; số máy: KF41E0009934) do bị cáo Lưu Việt Đ đứng tên chủ sở hữu. Bị cáo Đ sử dụng xe để cất giấu tài sản sau khi trộm được và dùng xe để chở tài sản đi tiêu thụ, chiếc xe liên quan đến hành vi phạm tội nên cần tịch thu chiếc xe, sung quỹ nhà nước.
- 01 điện thoại hiệu Samsung, màu trắng (Imei: 354813/60/740381/1) không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo.
- 01 quần dài; 01 áo thun ngắn tay; 01 áo khoác dài tay, màu cam; 01 nón bảo hiểm; 01 túi màu cam có chữ Shopee (là trang phục Đ mặc khi thực hiện hành vi trộm cắp) không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
Về án phí: bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố bị cáo Lưu Việt Đ phạm “Tội trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s, h, i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi năm 2017, xử phạt bị cáo Lưu Việt Đ 07 (Bảy) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 09/6/2022.
Tiếp tục tạm giam Lưu Việt Đ để đảm bảo thi hành án. Thời hạn tạm giam là 45 (Bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.
- Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự,
+ Tịch thu nộp ngân sách nhà nước: 01 xe mô tô biển số 50N1 94011 (số khung: RLKF4104LZ001181; số máy: KF41E0009934).
+ Tịch thu tiêu hủy: 01 quần dài; 01 áo thun ngắn tay; 01 áo khoác dài tay, màu cam; 01 nón bảo hiểm; 01 túi màu cam có chữ Shopee.
+ Trả cho bị cáo Lưu Việt Đ: 01 điện thoại hiệu Samsung, màu trắng (Imei: 354813/60/740381/1)
(Phiếu nhập kho vật chứng số 149/22-PNK ngày 12/7/2022 tại Công an Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh)
- Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, bị cáo Lưu Việt Đ chịu 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo có quyền kháng cáo bản án. Riêng bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa, thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết.
| Nơi nhận: - Bị cáo, Bị hại, Người có QLNVLQ; - VKSND, CA, Chi cục THA Quận 1; - PC27; - VKSND Tp.HCM; - Sở Tư pháp Tp.HCM; - Lưu HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Tôn Trung Tuấn |