vanban.org

Bản án 111/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn do nghiện ma tuý, rượu chè, cờ bạc

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chị Ng n Thị V được ly hôn anh Lê Quang H.

Về con chung: Giao 03 ngư i con chung Lê Bảo L, sinh ngày 10/01/2010, Lê Bảo N, sinh ngày 20/9/2012 và Lê Bảo Hà M, sinh ngày 02/5/2019 cho chị Ng n Thị V trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng, tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung đối với anh Lê Quang H. Việc giao nuôi con được thự… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn do nghiện ma tuý, rượu chè, cờ bạc — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con gữa chị Ngân Thị V và anh Lê Quang H"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chị Ng n Thị V được ly hôn anh Lê Quang H.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 207 Bộ luật tố tụng d n sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng d n sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN QUỲ HỢP
TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 111/2022/HNGĐ-ST
Ngày 18/8/2022
“V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲ HỢP – TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Hà Văn Đông

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Đặng Thế Quế.

2. Ông Hồ Tiến Dũng.

- Thư ký phiên toà: Bà Sầm Thị Thanh Sương - Thư T a án nh n d n huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Ông Trương Văn Hào – Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 8 năm 2022, tại trụ sở T a án nh n d n huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An, xét xử sơ thẩm công hai vụ án Hôn nh n và gia đình thụ l số: 99/2022/TLST – HNGĐ ngày 11 tháng 7 năm 2022 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 38/2022/QĐXXST- HNGĐ ngày 04 tháng 8 năm 2022 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Ngân Thị V, sinh năm 1988. Trú tại: Khối H, thị trấn Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An. (Có mặt)

2. Bị đơn: Anh Lê Quang H, sinh năm 1983. Nơi ĐKHKTT: Khối H, thị trấn Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Hiện đang chấp hành biện pháp xử l hành chính “Đưa vào cơ sở cai nghiện ma túy bắt buộc” tại Cơ sở cai nghiện ma túy số M tỉnh Nghệ An – xã Đ, huyện N, tỉnh Nghệ An. (Có đơn xin xét xử vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn hởi iện ngày 22/6/2022 và qua l i hai trong quá trình giải quyết vụ án, cũng như tại phiên t a, nguyên đơn là chị Ng n Thị V trình bày:

Chị Ng n Thị V và anh Lê Quang H đăng

ết hôn với nhau vào ngày 21/8/2009 tại Ủy ban nh n d n thị trấn Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Hai vợ chồng chung sống hạnh phúc được một th i gian thì bắt đầu nảy sinh m u thuẫn, nguyên nhân do anh H nghe theo bạn bè rủ rê, lôi éo dẫn đến sa vào tệ nạn xã hội nghiện chất ma túy, chị V và ngư i th n trong gia đình đã huyên nhủ nhiều lần nhưng anh H hông từ bỏ được chất ma túy và bị đưa đi cai nghiện ma túy bắt buộc, nhận thấy cuộc sống chung hông có tương lai, ảnh hưởng đến việc nuôi dạy con chung, chị V và các con hông có chỗ dựa về tinh thần, tình cảm vợ chồng dành cho nhau không còn, cuộc sống chung không có hạnh phúc và tương lai nên chị Ng n Thị V giữ nguyên yêu cầu giải quyết ly hôn đối với anh Lê Quang H.

Về con chung: Trong th i gian chung sống với nhau, vợ chồng có 03 ngư i con chung gồm Lê Bảo L, sinh ngày 10/01/2010, Lê Bảo N, sinh ngày 20/9/2012 và Lê Bảo Hà M, sinh ngày 02/5/2019. Bản thân anh H hiện đang phải chấp hành Quyết định áp dụng biện pháp xử l hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện ma túy bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy bắt buộc số M tỉnh Nghệ An - xã Đ, huyện N, tỉnh Nghệ An. Giải quyết ly hôn chị V đề nghị giao cả 03 ngư i con chung cho chị V trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng và hông yêu cầu anh H có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị Ng n Thị V hông yêu cầu T a án giải quyết.

- Ý iến của bị đơn anh Lê Quang H trình bày trong bản tự hai, biên bản lấy l i hai như sau:

Anh H và chị V đăng

ết hôn với nhau vào ngày 21/8/2009 tại Ủy ban nh n d n thị trấn Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An trên cơ sở tự nguyện. Th i gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, sau này do anh H hông làm chủ được bản th n, nghe theo l i rủ rê của bạn bè sa vào tệ nạn xã hội, nghiện chất ma túy, dẫn đến vợ chồng xảy ra m u thuẫn, bất đồng quan điểm sống, hông có tiếng nói chung, cuộc sống gia đình hông hạnh phúc. Đến nay chị V hông chấp nhận tha thứ để quay trở lại đoàn tụ mà đề nghị được giải quyết ly hôn, bản th n anh H thấy rằng không thể níu éo được tình cảm vợ chồng nên đồng ý giải quyết ly hôn với chị Ng n Thị V.

Vợ chồng có 03 ngư i con chung tên là Lê Bảo L, sinh ngày 10/01/2010, Lê Bảo N, sinh ngày 20/9/2012 và Lê Bảo Hà M, sinh ngày 02/5/2019, giải quyết ly hôn anh H có nguyện vọng được giao ngư i con thứ hai Lê Bảo N cho anh H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giao ngư i con đầu Lê Bảo L và ngư i con thứ ba Lê Bảo Hà M cho chị V trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, hai bên không có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau.

Đối với phần tài sản chung và nợ chung của vợ chồng, hai bên không có tranh chấp gì nên anh Lê Quang H hông yêu cầu T a án giải quyết.

- Ý iến của đại diện Viện iểm sát nh n d n huyện Quỳ Hợp tại phiên t a:

Qua iểm sát giải quyết vụ án từ hi thụ l vụ án cho đến trước hi đưa vụ án ra xét xử và tại phiên t a thấy rằng: Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư , nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng d n sự, quá trình hỏi và tranh luận tại phiên t a đã tu n thủ đúng quy định của Bộ luật tố tụng d n sự. Nguyên đơn có mặt tham gia giải quyết vụ việc theo giấy triệu tập, tu n thủ đúng quy định của Bộ luật Tố tụng d n sự. Trong quá trình giải quyết vụ án do bị đơn đang trong th i gian chấp hành Quyết định ADBPXLHC của T a án đưa vào cơ sở cai nghiện ma túy bắt buộc nên không chấp hành đầy đủ quyền, nghĩa vụ theo quy định, bị đơn có đơn xin được giải quyết vắng mặt, do đó cần xét xử vắng mặt đối với bị đơn.

Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các điều 51; 56; 81; 82; 83 Luật Hôn nh n và gia đình; Điều 28; 35; 39; hoản 1 Điều 227 và hoản 1 Điều 228; hoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng d n sự; điểm a hoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thư ng vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản l và sử dụng án phí và lệ phí T a án, để xét xử.

Về quan hệ hôn nh n: Cần chấp nhận đơn hởi iện, cho chị Ng n Thị V được ly hôn với anh Lê Quang H.

Bản th n anh Lê Quang H hiện nay đang chấp hành biện pháp cai nghiện bắt buộc, để đảm bảo quyền lợi cho các con chung đề nghị giao cả 03 ngư i con Lê Bảo L, sinh ngày 10/01/2010, Lê Bảo N, sinh ngày 20/9/2012 và Lê Bảo Hà M, sinh ngày 02/5/2019 cho chị Ng n Thị V trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung đối với anh Lê Quang H. Việc giao nuôi con cần thực hiện ể từ tháng 8 năm 2022 trở đi cho đến lúc con chung đủ 18 tuổi, trưởng thành, bên hông trực tiếp nuôi con có quyền thăm gặp con, hông ai được cản trở.

Hai bên không yêu cầu T a án giải quyết về phần tài sản chung và nợ chung, nên đề nghị không xem xét giải quyết.

Buộc nguyên đơn phải chịu tiền án phí d n sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Nguyên đơn có mặt hông có iến tranh luận gì.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau hi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên t a, căn cứ vào ết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Chị Ng n Thị V có đơn, yêu cầu giải quyết xin ly hôn đối với anh Lê Quang H, đề nghị giao cả 03 ngư i con chung cho chị V trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, chị V hông yêu cầu anh H có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung và hông yêu cầu Tòa án giải quyết về phần tài sản chung của vợ chồng. Theo quy định tại hoản 1 Điều 51 luật Hôn nh n và gia đình và hoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng d n sự, quan hệ pháp luật trong vụ án được xác định là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.

Bị đơn anh Lê Quang H có nơi đăng hộ hẩu thư ng trú tại hối H, thị trấn Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của T a án nh n d n huyện Q, tỉnh Nghệ An theo quy định tại điểm a hoản 1 Điều 35; điểm a hoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng d n sự. Trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chấp hành đúng quy định về quyền và nghĩa vụ theo quy định, bị đơn hiện đang trong th i gian chấp hành Quyết định áp dụng biện pháp xử l hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy bắt buộc số M tỉnh Nghệ An – xã Đ, huyện N, tỉnh Nghệ An, do đó vụ án thuộc trư ng hợp hông tiến hành h a giải được theo Điều 207 Bộ luật tố tụng d n sự. Bị đơn có đơn xin được giải quyết vắng mặt tại các buổi làm việc và phiên tòa của T a án, do đó cần áp dụng Điều 227 và 228 Bộ luật Tố tụng d n sự xét xử vắng mặt đối với bị đơn.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Ngân Thị V và anh Lê Quang H đăng

ết hôn vào ngày 21 tháng 8 năm 2009 tại U ban nh n d n thị trấn Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Hôn nhân giữa hai bên hoàn toàn tự nguyện, đảm bảo về điều kiện kết hôn và đăng đúng thủ tục quy định của pháp luật, nên quan hệ hôn nhân giữa hai bên là hợp pháp. Sau khi ết hôn chung sống một th i gian vợ chồng xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do anh H sa vào tệ nạn xã hội nghiện chất ma túy, chị Ng n Thị V xác định cuộc sống chung của vợ chồng không hạnh phúc, hông có tương lai l u dài. Trong quá trình lấy l i hai và xác minh tại địa phương về m u thuẫn vợ chồng cho thấy, giữa hai bên có nhiều m u thuẫn, quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa nguyên đơn chị V giữ nguyên iến iên quyết xin được giải quyết ly hôn đối với anh Lê Quang H, anh H có ý kiến đồng giải quyết ly hôn với chị Ng n Thị V. Xét thấy, m u thuẫn giữa vợ chồng đã thực sự trầm trọng, đ i sống chung hông thể éo dài, mục đích của hôn nh n hông đạt được, vợ chồng có iến không quay trở lại đoàn tụ với nhau. Do đó, cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Ngân Thị V đối với anh Lê Quang H.

Về con chung: Qua xem xét tài liệu, chứng cứ do các đương sự cung cấp,

iến của các đương sự, xác minh về hoàn cảnh, môi trư ng sống và hả năng chăm sóc, nuôi dưỡng con chung, xét thấy hiện tại anh H đang trong th i gian chấp hành Quyết định áp dụng biện pháp XLHC đưa vào cơ sở cai nghiện ma túy bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy bắt buộc số M tỉnh Nghệ An – xã Đ, huyện N, tỉnh Nghệ An, việc giao con chung cho anh H chăm sóc, nuôi dưỡng sẽ hông đảm bảo được quyền, lợi ích hợp pháp, cũng như môi trư ng sống, hả năng chăm sóc, nuôi dưỡng con. Ngoài ra các con chung đang c n nhỏ cần sự gần gũi, chăm sóc, nuôi dưỡng của ngư i mẹ, cháu Lê Bảo L và Lê Bảo N đều có nguyện vọng muốn được ở cùng chị V, do đó cần xem xét giao các con chung cho chị V trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục, tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung đối với anh Lê Quang H là hợp tình, hợp l . Việc giao con chung cho chị V trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cần được thực hiện ể từ tháng 8 năm 2022 trở đi, cho đến lúc con chung đủ 18 tuổi, trưởng thành.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị Ng n Thị V và anh Lê Quang H có ý iến thống nhất hông yêu cầu Toà án giải quyết, nên Hội đồng xét xử hông xem xét.

Về án phí: Nguyên đơn chịu án phí d n sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào Điều 56; các điều 81; 82 và 83 Luật Hôn nh n và Gia đình; hoản 1 Điều 227; hoản 1 Điều 228; hoản 4 Điều 147 BLTTDS; điểm a hoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thư ng vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản l và sử dụng án phí và lệ phí T a án, xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Ng n Thị V được ly hôn anh Lê Quang H.

2. Về con chung: Giao 03 ngư i con chung Lê Bảo L, sinh ngày 10/01/2010, Lê Bảo N, sinh ngày 20/9/2012 và Lê Bảo Hà M, sinh ngày 02/5/2019 cho chị Ng n Thị V trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng, tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung đối với anh Lê Quang H. Việc giao nuôi con được thực hiện ể từ tháng 8 năm 2022 trở đi cho đến lúc con chung đủ 18 tuổi, trưởng thành.

Bên hông trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, hông ai được cản trở.

3. Về án phí: Chị Ng n Thị V chịu án phí d n sự sơ thẩm 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), được hấu trừ trong số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) chị V đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu số: 0006906 ngày 08/7/2022 tại Chi cục thi hành án d n sự huyện Q, tỉnh Nghệ An.

Án xử công hai sơ thẩm có mặt nguyên đơn, vắng mặt bị đơn.

Nguyên đơn có quyền háng cáo bản án trong hạn 15 ngày, ể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt có quyền háng cáo bản án trong hạn 15 ngày, ể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.

Cỡ chữ