vanban.org

Bản án 111/2021/HC-ST — Hành chính

TAND TP. Hà Nội Tuyên án 27/04/2021 Hành chính Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Đình chỉ giải quyết yêu cầu khởi kiện của bà Cao TT đề nghị hủy:

Quyết định số 7641/QĐ-UBND ngày 12-11-2013 của UBND huyện Thanh Trì về việc thu hồi thửa đất số 60, tờ bản đồ số 8 (đo đạc năm 1994) xã Tân Triều, huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội. Quyết định số 3732/QĐ-UBND ngày 01-6-2016 của Chủ tịch UBND huyện Thanh Trì về việc cưỡng chế thu hồi đất. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hành chính — "Cao TT - UBND huyện Thanh Trì, Chủ tịch UBND huyện Thanh Trì"
  • Tòa quyết gì? Đình chỉ giải quyết yêu cầu khởi kiện của bà Cao TT đề nghị hủy:
  • Căn cứ chính? Điều 123 Luật Đất đai; Điều 14 Nghị định số 84/2007/NĐ-CP Quy định bổ sung về việc cấp Giấy…; Điều 17 Luật Khiếu nại
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 111/2021/HC-ST.
Ngày: 27-4-2021.

V/v: Khiếu kiện về hoạt động

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

thu hồi đất.

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Trí Cường.

Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Chí Cường và bà Ngô Thị Ngọc Bích.

- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Lưu Việt Thắng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Lừng, Kiểm sát viên.

Ngày 27-4-2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội tiến hành xét xử công khai vụ án hành chính sơ thẩm đã thụ lý số 130/2017/TLST-HC ngày 04-5-2017, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 92/QĐXX-HC ngày 16-3-2021 và được ấn định thời gian mở lại phiên tòa theo Quyết định hoãn phiên tòa số 52/QĐ-HPT ngày 15-4-2021. Vụ án xét xử giữa các đương sự:

* Người khởi kiện: Bà Cao TT, sinh năm 1963.

Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú: Xóm Lẻ, thôn Triều Khúc, xã Tân Triều, huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội, có mặt tại phiên tòa.

* Người bị kiện:

1. UBND huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội.

2. Chủ tịch huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội.

Đại diện theo ủy quyền của Chủ tịch & UBND huyện Thanh Trì là ông Nguyễn Huy Toàn, chức vụ: Phó chủ tịch UBND huyện Thanh Trì, xin xét xử vắng mặt.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. UBND xã Tân Triều, huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội, vắng mặt tại phiên tòa.

2. Ông Cao DT, sinh năm 1954, xin xét xử vắng mặt.

3. Bà Cao TH1, sinh năm 1958, xin xét xử vắng mặt.

4. Bà Cao TH2, sinh năm 1967, có mặt tại phiên tòa.

Cùng đăng ký nhân khẩu thường trú: Thôn Triều Khúc, xã Tân Triều, huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội.

* Người tham gia tố tụng khác:

- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Chủ tịch & UBND huyện Thanh Trì là ông Lê Đình Tiến, chức vụ: Chuyên viên Trung tâm Phát triển quỹ đất huyện Thanh Trì, có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Hộ gia đình có 2 thành viên gồm cụ Đặng TT và con gái là bà Cao TT được giao sử dụng 340 m2 đất tại thửa số 60, tờ bản đồ số 8 của xã Tân Triều, huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội. Hộ gia đình cụ Hoàng TT đã được UBND huyện Thanh Trì cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 817717 ngày 10-5-2000, nhưng bị nhầm chủ hộ là Hoàng TT thành Đặng TT.

Thực hiện dự án Giải phóng mặt bằng và san nền sơ bộ Khu đô thị Tây Nam Kim Giang I, UBND huyện Thanh Trì đã ra Quyết định số 7641/QĐ-UBND ngày 12-11-2013 về việc thu hồi thửa đất nêu trên của Hộ gia đình cụ Đặng TT. UBND huyện Thanh Trì cũng ban hành Quyết định số 8084/QĐ-UBND ngày 22-11-2013 phê duyệt Phương án bồi thường, hỗ trợ đối với Hộ gia đình cụ Đặng TT được 342.660.000 đồng. Cụ thể như sau:

- Bồi thường 340 m2 đất theo đơn giá 162.000 đồng/m2 với tỷ lệ 100% là 55.080.000 đồng.

- Bồi thường rau muống chuyên canh 340 m2 theo đơn giá 18.000 đồng/m2 với tỷ lệ 100% là 6.120.000 đồng.

- Hỗ trợ ổn định đời sống, ổn định sản xuất với 1 nhân khẩu theo mức: 1 khẩu x 12 tháng x 14.000đồng/kg gạo x 30 kg là 5.040.000 đồng.

- Hỗ trợ chuyển đổi nghề, tạo việc làm theo mức hỗ trợ bằng 5 lần giá đất nông nghiệp, với tỷ lệ 100% là: 340 m2 x 810.000 đồng/m2 là 275.400.000 đồng.

- Thưởng tiến độ bàn giao mặt bằng 340 m2 x 3.000 đồng/m2 với tỷ lệ 100% là: 1.020.000 đồng.

Các cơ quan tham mưu của UBND huyện Thanh Trì phối hợp với UBND xã Tân Triều đã thông báo về việc nhận tiền và bàn giao mặt bằng nhưng cụ Hoàng TT không nhận tiền, không bàn giao mặt bằng và đề nghị được bố trí 60 m2 đất ở.

Ngày 12-7-2015 cụ Hoàng TT chết do già yếu.

Ngày 30-12-2016, những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của cụ Hoằng Thị Túi là các con gồm bà Cao TT, bà Cao TH1, bà Cao TH2 và ông Cao DT đã lập Văn bản khai nhận, thỏa thuận phân chia di sản thừa kế tại Văn phòng công chứng Hà Đông. Theo đó: Bà Nguyễn Thị Thỏa được toàn quyền sử dụng thửa đất số 60, tờ bản đồ số 8 xã Tân Triều, huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội.

Kết quả tuyên truyền, vận động thuyết phục không đạt kết quả nên Chủ tịch UBND huyện Thanh Trì ban hành Quyết định số 3732/QĐ-UBND ngày 01-6-2016 của Chủ tịch UBND huyện Thanh Trì về việc cưỡng chế thu hồi đất. Ngày 26-7-2016, Chủ tịch UBND huyện Thanh Trì tiến hành tổ chức cưỡng chế thu hồi đất đối với Hộ gia đình cụ Hoàng TT.

Ngày 25-7-2016 bà Cao TT là thành viên còn lại duy nhất của Hộ gia đình cụ Hoàng TT nộp đơn khởi kiện vụ án hành chính với đề nghị hủy Quyết định số 3732/QĐ-UBND ngày 01-6-2016 của Chủ tịch UBND huyện Thanh Trì về cưỡng chế thu hồi đất.

Quá trình tham gia tố tụng bà Cao TT cho rằng mới biết được Quyết định thu hồi đất và Quyết định phê duyệt Phương án bồi thường, hỗ trợ nên đã bổ sung yêu cầu khởi kiện, đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội:

- Hủy Quyết định số 7641/QĐ-UBND ngày 12-11-2013 của UBND huyện Thanh Trì về việc thu hồi thửa đất số 60, tờ bản đồ số 8 (đo đạc năm 1994) xã Tân Triều, huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội đối với Hộ gia đình bà Đặng TT.

- Hủy Quyết định số 8084/QĐ-UBND ngày 22-11-2013 của UBND huyện Thanh Trì về việc phê duyệt Phương án bồi thường, hỗ trợ khi thu hồi đất đối với Hộ gia đình bà Đặng TT.

Lý do khởi kiện của bà Cao TT như sau:

- Việc thu hồi đất để phục vụ đầu tư xây dựng đô thị là không cơ sở pháp lý.

- Hộ gia đình không nhận được Quyết định thu hồi đất, Quyết định phê duyệt Phương án bồi thường hỗ trợ khi thu hồi đất. Toàn bộ tài liệu đều ghi tên Đặng TT là không đúng chủ sử dụng đất. Chủ hộ gia đình sử dụng đất phải là Hoàng TT. Do đó, UBND xã Tân Triều và UBND huyện Thanh Trì đã thực hiện thủ tục thu hồi đất không đúng chủ thể, không giao các quyết định hành chính về thu hồi đất, bồi thường và hỗ trợ cho Hộ gia đình.

- Chủ tịch UBND huyện Thanh Trì cưỡng chế thu hồi đất đã vi phạm những quy định tại Điều 69 Luật Đất đai. Hộ gia đình đã lập Dự án chuyển từ canh tác lúa sang đào ao thả cá và trồng cây ăn quả ngày 05-4-2003, được UBND xã Tân Triều xác nhận ngày 14-11-2003. Nội dung xác nhận thể hiện khu vực xin chuyển đổi nằm trong quy hoạch chuyển đổi đã được UBND huyện Thanh Trì xác nhận. Thực tế trên thửa đất số 60 Hộ gia đình đã xây nhà ở để trông coi tài sản và không nơi ở nào khác nên cụ Đặng TT đã phải chống gậy đến UBND xã Tân Triều đề nghị xin hưởng 1 suất đất tái định cư theo chủ trương chung. Tuy nhiên, UBND huyện Thanh Trì không phê duyệt cho hưởng 01 suất đất ở như những gia đình khác mà hỗ trợ bằng 5 lần giá đất nông nghiệp là không đúng. Bà Cao TT không chồng con, không va chạm xã hội, không biết chữ và kém hiểu biết nên sau đó mới khởi kiện hành chính đề nghị được hưởng 01 suất đất ở như các Hộ gia đình khác bị thu hồi đất ở cùng thời điểm và cùng chung dự án.

- Hộ gia đình có hoàn cảnh mẹ già yếu và con là bà Cao TT không được thông báo về kê khai, kiểm đếm tài sản trên đất làm căn cứ lập Phương án bồi thường, hỗ trợ ngày 03-7-2012 nên không công nhận kết quả kiểm đếm theo Biên bản ngày 03-7-2012. Gia đình cụ Hoàng TT (trong đó có bà Cao TT) chỉ biết việc kiểm đếm đã từng được UBND xã Tân Triều thực hiện vào ngày 06-6-2007 và ngày 31-12-2007 đã được công bố công khai và các thành viên trong gia đình cụ Hoàng TT ký, điểm chỉ xác nhận nội dung. Tuy nhiên tài liệu này UBND xã Tân Triều đang nắm giữ. Bà Cao TT đề nghị UBND huyện Thanh Trì và UBND xã Tân Triều xuất trình Biên bản kiểm đếm ngày 06-6-2007 và ngày 31-12-2007.

- Việc thực hiện chính sách thu hồi đất và giải phóng mặt bằng của UBND Thanh Trì khiến cho bà Cao TT không có chỗ ở.

* Chủ tịch & UBND huyện Thanh Trì trình bày:

Thừa nhận những chứng cứ đã giao nộp và khẳng định trình tự, thủ tục thu hồi đất, cưỡng chế thu hồi đất và lập phương án bồi thường, hỗ trợ đối với hộ gia đình cụ Đặng TT là đúng pháp luật.

- Về căn cứ thực hiện thủ tục thu hồi đất:

UBND thành phố Hà Nội ban hành Quyết định số 4272/QĐ-UBND ngày 26-10-2007 về việc thu hồi 257.910 m2 đất tại xã Tân Triều. Sau đó, UBND thành phố Hà Nội ban hành Quyết định số 4890/QĐ-UBND ngày 05-10-2010 về việc giao Trung tâm Phát triển quỹ đất huyện Thanh Trì làm chủ đầu tư thực hiện Dự án Giải phóng mặt bằng và san nền sơ bộ Khu đô thị Tây Nam Kim Giang I.

- Về kết quả kiểm đếm:

+ Thời điểm năm 2007, việc kiểm đếm được Trung tâm Phát triển quỹ đất thành phố thực hiện, do đó UBND huyện Thanh Trì và Trung tâm Phát triển quỹ đất huyện Thanh Trì không lưu giữ Biên bản kiểm đếm ngày 06-6-2007 và ngày 31-12-2007 như bà Cao TT trình bày.

+ Theo Quyết định số 4890/QĐ-UBND ngày 05-10-2010 của UBND thành phố Hà Nội thì Trung tâm Phát triển quỹ đất huyện Thanh Trì được giao làm Chủ đầu tư thực hiện dự án. Do hộ gia đình cụ Hoàng TT không phối hợp nên UBND xã Tân Triều đã lập Biên bản ngày 08-6-2012 về việc hộ gia đình không phối hợp trong công tác điều tra hiện trạng, xác minh nội dung kê khai. Biên bản ngày 22-6-2012 về việc hộ gia đình không ký Biên bản điều tra hiện trạng, xác minh nội dung kê khai. Từ đó UBND xã Tân Triều đã tiến hành kiểm kê đất, tài sản gắn liền với đất tại Biên bản ngày 03-7-2012.

- Về việc lập phương án bồi thường, hỗ trợ:

Theo Thông báo số 48 ngày 24-5-2013 của Văn phòng UBND thành phố Hà Nội thì các hộ gia đình phải có đơn trình bày quan điểm về chính sách hỗ trợ bằng nhận đất hay nhận tiền, từ đó UBND huyện Thanh Trì trình UBND thành phố Hà Nội. Hội đồng Bồi thường, hỗ trợ & tái định cư huyện Thanh Trì và UBND xã Tân Triều đã thông báo 2 lần đến các hộ dân. Sau khi hết thời hạn, chỉ có 73/309 Hộ gia đình có đơn xin nhận hỗ trợ bằng đất; 23/309 Hộ gia đình xin nhận tiền. Hộ gia đình cụ Hoàng TT thuộc trường hợp không làm đơn nên được tính hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp và tạo việc làm bằng 5 lần giá đất nông nghiệp (162.000 đồng/m2 x 5 lần = 810.000 đồng) theo quy định tại khoản 1 Điều 40 Quyết định số 108/2009/QĐ-UBND ngày 29-9-2009 của UBND thành phố Hà Nội. Tuy nhiên, sau khi xem xét hồ sơ giải phóng mặt bằng đối với Hộ gia đình cụ Đặng TT và xác minh thông tin đại địa phương cho thấy: Tại thời điểm thực hiện dự án Giải phóng mặt bằng và san nền sơ bộ Khu đô thị Tây Nam Kim Giang I, cụ Hoàng TT có trực tiếp đến UBND xã Tân Triều đề nghị được bố trí nhà đất ở và không đồng ý nhận bằng tiền. Do đó, UBND huyện Thanh Trì đã có Báo cáo số 602/BC-UBND ngày 23-10-2020 và Văn bản số 2733/UBND-TTPTQĐ ngày 16-12-2020 trình UBND thành phố Hà Nội xem xét. UBND thành phố Hà Nội cũng đã có Văn bản số 14/UBND-GPMB ngày 04-01-2021 gửi Bộ Tài nguyên & Môi trường cho ý kiến thực hiện. Bộ Tài nguyên & Môi trường đã có Văn bảo số 1764/BTNMT-TCQLĐĐ ngày 16-4-2021 thể hiện tình thần đồng ý với quan điểm đề xuất của UBND huyện Thanh Trì.

* UBND xã Tân Triều cũng xác định quá trình phối hợp với các cơ quan chức năng thực hiện thu hồi đất thì Hộ gia đình cụ Hoàng TT không ai tham gia kê khai, kiểm đếm do đó Tổ công tác lập biên bản về việc Hộ gia đình cụ Hoàng TT chống đối để thực hiện các hoạt động phê duyệt bồi thường, hỗ trợ. Hộ gia đình có 2 thành viên là cụ Hoàng TT giả yếu và con gái Cao TT bị bệnh, diện tích đất nông nghiệp bị thu hồi có tỷ lệ trên 30% đất nông nghiệp được giao và không nhà đất ở tại địa phương.

Đại diện UBND xã Tân Triều cũng xác định tại thời điểm thực hiện giải phóng mặt bằng, cụ Hoàng TT có đến trụ sở UBND xã Tân Triều trình bày xin giao đất ở nhưng không nộp đơn. Mặt khác, trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp cho Hộ gia đình lại mang tên Đặng TT, trong khi Chứng minh nhân dân và Sổ hộ khẩu là Hoàng TT. Do đó, việc giải quyết đề nghị của cụ Hoàng TT liên quan đến bồi thường, hỗ trợ chưa kịp thời xác minh.

UBND xã Tân Triều cũng có Văn bản số 304/UBND ngày 12-10-2020 đề nghị các cơ quan có thẩm quyền xem xét giải quyết kiến nghị của công dân liên quan đến giải phóng mặt bằng thực hiện dự án khu đô thị Tây nam Kim Giang I để ổn định tình hình địa phương.

* Kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và đối thoại, các đương sự không tranh chấp về tài liệu, chứng cứ đã giao nộp cho Tòa án; không yêu cầu, đề nghị Tòa án xác minh, thu thập bổ sung chứng cứ. Các đương sự không tranh chấp về thẩm quyền thực hiện các hoạt động thu hồi đất. Nội dung tranh chấp của đương sự trong vụ án là việc bà Cao TT cho rằng Hộ gia đình không nhận được các quyết định thu hồi đất cũng như phê duyệt Phương án bồi thường hỗ trợ; không đồng ý với chính sách hỗ trợ 5 lần giá đất nông nghiệp. Do đó bà Cao TT giữ yêu cầu khởi kiện.

Tại phiên tòa:

- Bà Cao TT xin rút một phần yêu cầu khởi kiện. Theo đó, bà Cao TT nhất trí với chủ trương và mục đích thu hồi đất thực hiện dự án, không yêu cầu hủy quyết định thu hồi đất, không yêu cầu hủy quyết định cưỡng chế thu hồi đất cũng như không yêu cầu tuyên bố hành vi tổ chức cưỡng chế thu hồi đất trái pháp luật nữa. Bà Cao TT chỉ yêu cầu hủy Quyết định số 8084/QĐ-UBND ngày 22-11-2013 của UBND huyện Thanh Trì về việc phê duyệt Phương án bồi thường, hỗ trợ khi thu hồi đất đối với Hộ gia đình bà Đặng TT. Hoàn cảnh bà Cao TT bệnh tật, không nơi ở, không nơi nương tựa. Chủ tịch UBND huyện Thanh Trì cũng phải hỗ trợ tiền thuê nhà ở hàng tháng nên đề nghị UBND huyện Thanh Trì phê duyệt lại chính sách hỗ trợ bằng đất ở thay cho hỗ trợ 5 lần giá đất nông nghiệp. Ngoài ra bà Cao TT, bà Cao TH2 không yêu cầu đề nghị gì khác.

- Đại diện theo ủy quyền của Chủ tịch & UBND huyện Thanh Trì xin vắng mặt.

Ông Lê Đình Tiến - Chuyên viên Trung tâm phát triển quỹ đất là Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Chủ tịch & UBND huyện Thành Trì thể hiện quan điểm xác định hoạt động thu hồi đất đối với Hộ gia đình cụ Đặng TT là đúng pháp luật. Tuy nhiên, do hoàn cảnh của hộ gia đình và đặc thù thời điểm thực hiện dự án nên UBND huyện Thanh Trì đã có báo cáo thành phố Hà Nội. Hiện nay UBND huyện Thanh Trì đang chờ văn bản chỉ đạo của cấp trên để xem xét điều chỉnh lại chính sách hỗ trợ đối với Hộ gia đình cụ Hoàng TT.

- Đại diện UBND xã Tân Triều xin xét xử vắng mặt.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội phát biểu ý kiến:

+ Về hoạt động tiến hành tố tụng của Tòa án và Hội đồng xét xử đúng quy định của pháp luật, các đương sự đã thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ tố tụng.

+ Bà Cao TT tự nguyện rút một phần yêu cầu khởi kiện nên đề nghị Hội đồng xét xử đình chỉ giải quyết theo quy định của pháp luật.

+ Về nội dung: Đề nghị bác yêu cầu khởi kiện của bà Cao TT.

Căn cứ tài liệu, chứng cứ đã thu thập và được thẩm tra công khai tại phiên tòa; căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa trên cơ sở ý kiến của đương sự, của luật sư và đề nghị của Kiểm sát viên.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Về tố tụng:

. Xác định đối tượng khởi kiện, thẩm quyền và phạm vi giải quyết vụ án.

. Xác định đối tượng khởi kiện của bà Cao TT trong vụ án hành chính là các quyết định hành chính, hành vi hành chính về quản lý đất đai theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 6 Luật Đất đai năm 2003, nay là khoản 6 Điều 22 Luật Đất đai năm 2013. Cụ thể:

- Quyết định số 7641/QĐ-UBND ngày 12-11-2013 của UBND huyện Thanh Trì về việc thu hồi thửa đất số 60, tờ bản đồ số 8 (đo đạc năm 1994) xã Tân Triều, huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội.

- Quyết định số 8084/QĐ-UBND ngày 22-11-2013 của UBND huyện Thanh Trì về việc phê duyệt Phương án bồi thường, hỗ trợ khi thu hồi đất.

- Quyết định số 3732/QĐ-UBND ngày 01-6-2016 của Chủ tịch UBND huyện Thanh Trì về việc cưỡng chế thu hồi đất.

- và Hành vi hành chính của Chủ tịch UBND huyện Thanh Trì tổ chức cưỡng chế thu hồi đất ngày 26-7-2016 đối với Hộ gia đình cụ Hoàng TT.

[1. 2]. Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội theo quy định tại Điều 32 Luật Tố tụng hành chính.

. Theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 193 khoản 2 Luật Tố tụng hành chính, Hội đồng xét xử xem xét trong cùng vụ án đối với yêu cầu của bà Cao TT đề nghị UBND huyện Thanh Trì thực hiện lại hoạt động thu hồi đất.

. Về thời hiệu khởi kiện.

Các đương sự không tranh chấp pháp lý về thời hiệu khởi kiện. Mặt khác, chỉ khi tham gia tố tụng trong vụ án hành chính, bà Cao TT mới biết Quyết định thu hồi đất và Quyết định phê duyệt Phương án bồi thường, hỗ trợ. UBND huyện Thanh Trì và UBND xã Tân Triều không cung cấp được chứng cứ về việc đã giao các quyết định này cho Hộ gia đình cụ Hoàng TT. Hồ sơ giải phóng mặt bằng do các cơ quan tham mưu của UBND huyện Thanh Trì đã xác định sai chủ thể bị thu hồi đất, được bồi thường hỗ trợ là Đặng TT chứ không đúng tên cụ Hoàng TT. Do đó, sau khi nhận được quyết định và được thông báo kế hoạch cưỡng chế thu hồi đất thì ngày 25-7-2016 bà Cao TT nộp đơn khởi kiện vụ án hành chính, sau đó bổ sung yêu cầu khởi kiện là đảm bảo thời hiệu khởi kiện theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 116 Luật Tố tụng hành chính năm 2015.

. Tại phiên tòa bà Cao TT tự nguyện rút một phần yêu cầu khởi kiện, do đó Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 173 Luật Tố tụng hành chính để đình chỉ giải quyết đối với:

- Quyết định số 7641/QĐ-UBND ngày 12-11-2013 của UBND huyện Thanh Trì về việc thu hồi đất.

- Quyết định số 3732/QĐ-UBND ngày 01-6-2016 của Chủ tịch UBND huyện Thanh Trì về việc cưỡng chế thu hồi đất.

- Hành vi hành chính của Chủ tịch UBND huyện Thanh Trì tổ chức cưỡng chế thu hồi đất ngày 26-7-2016 đối với Hộ gia đình cụ Hoàng TT.

Đối tượng khởi kiện còn lại cần xem xét trong vụ án là Quyết định số 8084/QĐ-UBND ngày 22-11-2013 của UBND huyện Thanh Trì về việc phê duyệt Phương án bồi thường, hỗ trợ khi thu hồi đất.

Xét Quyết định hành chính bị khiếu kiện:

. Lý do khởi kiện cũng như ý kiến phản đối của các đương sự trong vụ án đều thể hiện không tranh chấp về thẩm quyền của UBND huyện Thanh Trì thu hồi đất và phê duyệt Phương án bồi thường, hỗ trợ đối với Hộ gia đình cụ Hoàng TT. Mặt khác, theo quy định tại khoản 2 Điều 44 Luật Đất đai năm 2003, khoản 1 và điểm b khoản 2 Điều 31 Nghị định số 69/2009/NĐ-CP ngày 13-8-2009 của Chính phủ thì UBND huyện Thanh Trì là cơ quan có thẩm quyền phê duyệt Phương án bồi thường, hỗ trợ khi thu hồi đất đối với Hộ gia đình cụ Hoàng TT.

. Các đương sự cũng không tranh chấp về số lượng diện tích đất, vị trí đất bị thu hồi nên Hội đồng xét xử không đề cập.

Đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình tham gia tố tụng bà Cao TT không thừa nhận nội dung kiểm đếm tài sản trên đất tại các Biên bản ngày 03-7-2012 xác định tài sản trên đất chỉ là rau muống chuyên canh, mà yêu cầu xác định tài sản trên đất theo các Biên bản kiểm đếm ngày 06-6-2007 và ngày 31-12-2007 đã thực hiện trước đó. Bà Cao TT và bà Cao TH2 khai từ năm 2003 gia đình đã được chuyển cơ cấu để trồng cây lâu năm, xây dựng công trình trên đất nhưng chưa được bồi thường, hỗ trợ về tài sản này khi thu hồi đất. Tuy nhiên, tại phiên tòa bà Cao TT và bà Cao TH2 cũng xin rút yêu cầu về xem xét lại đối với những tài sản trên đất bị thu hồi nên Hội đồng xét xử không đánh giá tính hợp pháp của quyết định hành chính về tiêu chí này.

. Về trình tự, thủ tục thu hồi đất:

Tại đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình tham gia tố tụng trước thời điểm mở phiên tòa bà Cao TT cho rằng không được UBND huyện Thanh Trì thông báo làm các thủ tục về thu hồi đất. Tuy nhiên, căn cứ hồ sơ giải phóng mặt bằng cho thấy: Dự án Giải phóng mặt bằng và san nền sơ bộ Khu đô thị Tây Nam Kim Giang I được triển khai liên quan đến 309 Hộ gia đình, cá nhân trên địa bàn xã Tân Triều chứ không riêng đối với Hộ gia đình cụ Hoàng TT. Thực tế có đến 73 Hộ gia đình, cá nhân có đơn đề nghị được hưởng hỗ trợ bằng giao đất ở và 23 Hộ gia đình, cá nhân đề nghị được nhận hỗ trợ bằng tiền. Việc thu hồi đất được tiến hành công khai với nhiều hoạt động. UBND huyện Thanh Trì ra quyết định thu hồi thửa đất số 60, tờ bản đồ, tờ bản đồ số 8 (đo đạc năm 1994) xã Tân Triều, huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội và phê duyệt bồi thường, hỗ trợ đối với Hộ gia đình cụ Hoàng TT là đúng quy định tại khoản 2 Điều 14, khoản 1 Điều 16 Nghị định số 69/2009/NĐ-CP ngày 13-8-2009 của Chính phủ; khoản 2 Điều 8, khoản 2 Điều 11, khoản 1 Điều 13 Quyết định 108/2009/QĐ-UBND ngày 29-9-2009 của UBND thành phố Hà Nội. Tuy nhiên, do xác định không đúng tên chủ Hộ gia đình và điều kiện, hoàn cảnh gia đình cụ Hoàng TT già yếu, thành viên còn lại chỉ là bà Cao TT lại bệnh tật nhưng UBND huyện Thanh Trì và UBND xã Tân Triều đã thực hiện các thủ tục giao nhận văn bản liên quan đến thu hồi đất cũng như tiếp nhận và giải quyết đề nghị được hỗ trợ bằng giao đất ở đối với Hộ gia đình cụ Hoàng TT là chưa phù hợp quy định tại khoản 2 Điều 30 và điểm c khoản 2 Điều 31 Nghị định số 69/2009/ NĐ-CP ngày 13-8-2009 của Chính phủ.

. Về nội dung quyết định hành chính bị khiếu kiện:

Nội dung cần xác định trong vụ án là việc áp dụng chính sách hỗ trợ khi thu hồi đất nông nghiệp có tỷ lệ trên 30% đất nông nghiệp mà Hộ gia đình cụ Hoàng TT được giao. Tại Quyết định số 8084/QĐ-UBND ngày 22-11-2013 UBND huyện Thanh Trì đã phê duyệt hỗ trợ chuyển đổi nghề, tạo việc làm cho Hộ gia đình cụ Hoàng TT theo mức bằng 5 lần giá đất nông nghiệp, với tỷ lệ 100% là: 340 m2 x 810.000 đồng/m2 là 275.400.000 đồng. Trong khi đó, bà Cao TH2 đề nghị Hộ gia đình phải được hưởng chính sách hỗ trợ bằng giao đất ở như thực tế các Hộ gia đình khác được hưởng chính sách hỗ trợ cùng dự án. Thấy rằng:

. Thửa đất số 60, tờ bản đồ số 8 (hệ bản đồ đo đạc năm 1994) của Hộ gia đình cụ Hoàng TT bị thu hồi thuộc Dự án xây dựng khu đô thị Tây Nam Kim Giang, được UBND huyện Thanh Trì thực hiện từ năm 2013. Thời điểm thực hiện phê duyệt Phương án bồi thường, hỗ trợ là trước ngày 01-7-2014 nên các văn bản pháp luật để xác định chính sách bồi thường, hỗ trợ theo quy định của Luật Đất đai năm 2003, Nghị định số 69/2009/NĐ-CP ngày 13-8-2009 của Chính phủ và Quyết định số 108/2009/QĐ-UBND ngày 29-9-2009 của UBND thành phố Hà Nội.

Hộ gia đình chưa được hưởng chính sách theo quy định tại khoản 3 Điều 40 Quyết định số 18/2008/QĐ-UBND ngày 29-9-2008 và khoản 1 Điều 39 Quyết định số 108/2009/QĐ-UBND ngày 29-9- 2009 của UBND thành phố Hà Nội. Theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 22 Nghị định số 69/2009/NĐ-CP ngày 13-8-2009 của Chính phủ thì: “ Hỗ trợ một lần bằng một suất đất ở hoặc một căn hộ chung cư hoặc một suất đất sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp. Việc áp dụng theo hình thức này được thực hiện đối với địa phương có điều kiện về quỹ đất ở, quỹ nhà ở và người được hỗ trợ có nhu cầu về đất ở hoặc căn hộ chung cư hoặc đất sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp mà giá trị được hỗ trợ theo quy định tại điểm a khoản này lớn hơn hoặc bằng giá trị đất ở hoặc căn hộ chung cư hoặc đất sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp”.

Thực hiện dự án xây dựng khu đô thị Tây Nam Kim Giang theo Văn bản số 48/TB-VP ngày 24-5-2013 và Quyết định số 18/2008/QĐ-UBND ngày 29-9-2008 của UBND thành phố Hà Nội tại địa bàn xã Tân Triều có nhiều (73) Hộ gia đình được UBND huyện Thanh Trì phê duyệt hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp và tạo việc làm bằng giao một suất đất ở 60 m2 với căn cứ là có đơn đề nghị. Trong khi đó, theo xác nhận của UBND xã Tân Triều thì trong giai đoạn thực hiện dự án, cụ Hoàng TT đã đến UBND xã Tân Triều đề nghị được hưởng chính sách hỗ trợ bằng đất ở. Tại các biên bản vận động bàn giao mặt bằng cũng thể hiện nguyện vọng đề nghị được hỗ trợ bằng giao đất ở. Nhu cầu về nơi ở đã được cụ Hoàng TT đến UBND xã Tân Triều đề nghị là được giao đất ở. Trong điều kiện hoàn cảnh già yếu, không tự viết đơn nhưng cụ Đặng TT chưa được các cơ quan chức năng xem xét, giải quyết thấu đáo đối với đề nghị nhận hỗ trợ bằng giao đất ở. UBND huyện Thanh Trì cho rằng cụ Hoàng TT không gửi đơn xin hưởng hỗ trợ như 73 hộ gia đình khác nên không phê duyệt hỗ trợ bằng đất ở là không phù hợp với thực tế. Mặt khác, Giấy chứng nhận quyền sử dụng thửa đất có nhầm lẫn về chủ sử dụng cũng ảnh hưởng đến nguyện vọng, đề nghị của cụ Hoàng TT trong quá trình thực hiện dự án. Như vậy, UBND xã Tân Triều và các cơ quan tham mưu không kịp thời báo cáo UBND huyện Thanh Trì để xem xét đề nghị của cụ Hoàng TT xin hưởng hỗ trợ bằng giao đất ở, dẫn đến việc UBND huyện Thanh Trì phê duyệt hỗ trợ bằng tiền là ảnh hưởng đến quyền lợi của Hộ gia đình cụ Đặng TT, đặc biệt với hoàn cảnh và điều kiện khó khăn tạo lập chỗ ở mới.

Thực tế cụ Hoàng TT đã chết, thành viên duy nhất còn lại của Hộ gia đình là bà Cao TT không còn nơi ở nào khác. Tại phiên tòa, bà Cao TT còn khai tình tiết không nơi ở và bệnh tật nên Chủ tịch UBND huyện Thanh Trì đã phải chi tiền thuê nhà ở cho bà Cao TT để ổn định cuộc sống.

Trong quá trình tham gia tố tụng, UBND huyện Thanh Trì cũng thể hiện đã có Báo cáo số 602/BC-UBND ngày 23-10-2020 và Văn bản số 2733/UBND-TTPTQĐ ngày 16-12-2020 trình UBND thành phố Hà Nội xem xét điều chỉnh chính sách hỗ trợ đối với dự án xây dựng khu đô thị Tây Nam Kim Giang. UBND thành phố Hà Nội đã có Văn bản số 14/UBND-GPMB ngày 04-01-2021 gửi Bộ Tài nguyên & Môi trường cho ý kiến thực hiện điều chỉnh hình thức hỗ trợ từ hỗ trợ bằng tiền sang hỗ trợ bằng đất ở. Bộ Tài nguyên & Môi trường đã có Văn bảo số 1764/BTNMT-TCQLĐĐ ngày 16-4-2021 thể hiện việc điều chỉnh thuộc thẩm quyền của UBND thành phố Hà Nội.

Do đó, cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Cao TT đối với Quyết định số 8084/QĐ-UBND ngày 22-11-2013 của UBND huyện Thanh Trì về việc phê duyệt Phương án bồi thường, hỗ trợ khi thu hồi đất. Đồng thời buộc UBND huyện Thanh Trì thực hiện lại chính sách bồi thường, hỗ trợ khi thu hồi đất là phù hợp.

Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội bác yêu cầu khởi kiện của bà Cao Thị Thảo là không phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.

. Về án phí: Theo quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 32 Nghị quyết 326/2016 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án thì bà Cao TT không phải chịu án phí hành chính sơ thẩm, số tiền đã nộp tạm ứng án phí sẽ được trả lại. UBND huyện Thanh Trì phải nộp án phí hành chính sơ thẩm.

. Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 204 và Điều 206 Luật Tố tụng hành chính.

Từ nhận định trên.

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 193 Luật Tố tụng hành chính.

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng khoản 2 Điều 3, Điều 30, Điều 32, Điều 204, Điều 206 Luật Tố tụng hành chính; Điều 50, khoản 1 Điều 52 Điều 123 Luật Đất đai năm 2003; Điều 17, Điều 18, Điều 21, Điều 27, Điều 28, Điều 29, Điều 31, Điều 36, Điều 37, Điều 38, Điều 40 Luật Khiếu nại; khoản 1 Điều 14 Nghị định số 84/2007/NĐ-CP ngày 25-5-2007 của Chính phủ; Điều 2, Điều 6 Quyết định số 1110/2006/QĐ-UBND ngày 23-6-2006 của UBND tỉnh Hà Tây; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, xử:

1. Đình chỉ giải quyết yêu cầu khởi kiện của bà Cao TT đề nghị hủy:

- Quyết định số 7641/QĐ-UBND ngày 12-11-2013 của UBND huyện Thanh Trì về việc thu hồi thửa đất số 60, tờ bản đồ số 8 (đo đạc năm 1994) xã Tân Triều, huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội.

- Quyết định số 3732/QĐ-UBND ngày 01-6-2016 của Chủ tịch UBND huyện Thanh Trì về việc cưỡng chế thu hồi đất.

2. Đình chỉ giải quyết cầu của bà Cao TT đề nghị tuyên bố hành vi của Chủ tịch UBND huyện Thanh Trì tổ chức cưỡng chế thu hồi đất ngày 26-7-2016 đối với Hộ gia đình cụ Hoàng TT là trái pháp luật.

3. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Cao TT như sau:

- Hủy Quyết định số 8084/QĐ-UBND ngày 22-11-2013 của UBND huyện Thanh Trì về việc phê duyệt Phương án bồi thường, hỗ trợ khi thu hồi đất đối với Hộ gia đình bà Đặng TT.

- Buộc UBND huyện Thanh Trì thực hiện lại chính sách bồi thường, hỗ trợ khi thu hồi đất đối với Hộ gia đình cụ Đặng TT theo quy định của pháp luật.

4. Về án phí:

- Bà Cao TT không phải chịu án phí hành chính sơ thẩm. Trả lại bà Cao TT 300.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí theo Biên lai số 0004576 ngày 28-3-2017 tại Cục thi hành án Dân sự thành phố Hà Nội.

- UBND huyện Thanh Trì phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí hành chính sơ thẩm.

5. Quyền kháng cáo:

- Bà Cao TT, Cao TH2 có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

- Chủ tịch & UBND huyện Thanh Trì, UBND xã Tân Triều, ông Cao DT và bà Cao TH1 vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ