vanban.org

Bản án 111/2021/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

TAND Q. Tân Phú, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 23/04/2021 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn - Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín.

Buộc ông Phạm Thanh Phong có trách nhiệm trả cho Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín số nợ của Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm Hợp đồng số 8743146 ngày 19/01/2018 là 25.014.594 đồng, trong đó nợ gốc là 17.552.781 đồng, lãi quá hạn là 7.461.813 đồng. Thời hạn thanh toán: Một lần ngay sau khi bản án … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "tranh chap tin dung"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn - Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN TÂN PHÚ
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 111/2021/DS – ST
Ngày: 23/4/2021
V/v Tranh chấp hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phùng Thị Huyền Minh.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Trần Quang Cảnh

2. Bà Nguyễn Thị Thanh Trang.

- Thư ký phiên tòa: Bà Mai Thanh Hằng - Thư ký Tòa án nhân dân quận Tân

Phú, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú tham gia phiên toà: Bà Đặng Thị Thu Hương – Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 4 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Tân Phú - Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 336/2020/DSST ngày 21 tháng 10 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 72/2021/QĐXXST-DS ngày 02 tháng 3 năm 2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số 125/2021/QĐST-DS ngày 26 tháng 3 năm 2021 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín.

Trụ sở: 266 – 268 Nam Kỳ Khởi Nghĩa, phường 8, quận 3, Tp. HCM.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Phú Lục- sinh năm 1975 (Theo Giấy ủy quyền số 410/2020/GUQ – CN.ĐBP ngày 25/9/2020) (có đơn xin vắng mặt)

Bị đơn: Ông Phạm Thanh Phong, sinh năm 1994.

Địa chỉ: 115/10a, Lê Trọng Tấn, phường Sơn Kỳ, quận Tân Phú. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 25/9/2020 của Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín (viết tắt là Ngân hàng) và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án ông Trần Phú Lục là người đại diện của nguyên đơn trình bày:

Ngày 19/01/2018, ông Phong và Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín (gọi tắt là Ngân hàng) có ký kết Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm Hợp đồng số 8743146, theo đó Ngân hàng đồng ý cấp thẻ tín dụng với hạn mức là 18.000.000 đồng, mục đích là tiêu dùng cá nhân.

Sau khi nhận thẻ, ông Phong thực hiện các giao dịch tín dụng tính từ ngày 28/02/2018 đến ngày 31/01/2019 với tổng số tiền là 30.700.000 đồng, ông Phong đã thanh toán được số tiền là 24.370.000 đồng, nhưng sau đó ông Phong không tiếp tục thanh toán khoản nợ thẻ dụng mà ông đã sử dụng cho dù Ngân hàng đã nhắc nhở nhiều lần. Kể từ ngày 30/6/2020, Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ của ông Phong và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn.

Nay Ngân hàng yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Phong phải trả nợ với tổng số tiền tạm tính đến ngày 23/4/2021 là 25.014.594 đồng, trong đó nợ gốc là 17.552.781 đồng, lãi quá hạn là 7.461.813 đồng. Ông Phong còn có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh từ ngày 24/4/2021 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất được quy định tại Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm Hợp đồng số 8743146 ngày 19/01/2018.

- Bị đơn – ông Phạm Thanh Phong đã được Toà án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt. Tòa án không lấy được lời khai cũng như không tiến hành hòa giải được. Do đó, Tòa án đưa vụ án ra xét xử theo luật định.

Tại phiên tòa hôm nay,

- Đại diện nguyên đơn ông Trần Phú Lục vắng mặt nhưng có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.

- Bị đơn ông Phạm Thanh Phong vắng mặt.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

Về việc tuân theo pháp luật: Đương sự, Thư ký và Hội đồng xét xử đều tuân theo pháp luật tố tụng qui định tại Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 48, Điều 68, Điều 69, khoản 2 Điều 97, Điều 171, Điều 173, Điều 203, 208 và Điều 220, khoản 1 Điều 227, Điều 248, Điều 260 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.

Về nội dung: Căn cứ vào Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm Hợp đồng số 8743146 ngày 19/01/2018 được ký kết giữa Ngân hàng và ông Phong là hoàn toàn tự nguyện và phù hợp quy định pháp luật. Ông Phong vi phạm nghĩa vụ thanh toán được các bên thỏa thuận trong hợp đồng là gây thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của Ngân hàng. Do đó yêu cầu của Ngân hàng là có cơ sở và phù hợp với quy định pháp luật nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Về án phí tính theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quyền khởi kiện, quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:

Căn cứ đơn khởi kiện của nguyên đơn, Hội đồng xét xử xác định vụ án trên là tranh chấp về hợp đồng tín dụng. Do bị đơn ông Phạm Thanh Phong cư trú tại quận Tân Phú nên Tòa án nhân dân quận Tân Phú thụ lý giải quyết là phù hợp theo quy định tại các khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Về thủ tục xét xử vắng mặt: Bị đơn ông Phạm Thanh Phong đã được Tòa án nhân dân quận Tân Phú tống đạt thông báo thụ lý vụ án, thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa và giấy triệu tập theo khoản 1, khoản 2 Điều 177; khoản 2 Điều 220; khoản 3 Điều 233 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, nhưng ông ông Phạm Thanh Phong vắng mặt không lý do. Căn cứ quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 Tòa án nhân dân quận Tân Phú vẫn tiến hành xét xử vắng mặt ông Phong.

Về yêu cầu của nguyên đơn:

- Xét yêu cầu thanh toán nợ còn thiếu của Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm Hợp đồng số 8743146 ngày 19/01/2018:

Căn cứ vào Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm Hợp đồng số 8743146 ngày 19/01/2018 và lời khai của đại diện nguyên đơn thì giữa Ngân hàng và ông Phong đã giao kết hợp đồng vay tài sản dưới hình thức sử dụng dịch vụ thẻ, Ngân hàng đồng ý cấp thẻ tín dụng cho ông Phong với hạn mức là 18.000.000 đồng, mục đích là tiêu dùng cá nhân. Sau khi nhận thẻ, từ ngày 28/02/2018 ông Phong đã thực hiện các giao dịch tín dụng với tổng số tiền là 30.700.000 đồng nhưng chỉ mới thanh toán được số tiền là 24.370.000 đồng, từ ngày 31/01/2019 ông Phong đã không thực hiện nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng. Do đó, kể từ ngày 30/6/2020, Ngân hàng chấm dứt quyền sử dụng thẻ của ông Phong và chuyển toàn bộ số dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn

Căn cứ theo các điều khoản ký kết trong Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm Hợp đồng số 8743146 ngày 19/01/2018 thì ông Phong đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên nay Ngân hàng yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Phong phải trả nợ với tổng số tiền tạm tính đến ngày 23/4/2021 là 25.014.594 đồng, trong đó nợ gốc là 17.552.781 đồng, lãi quá hạn là 7.461.813 đồng. Ông Phong còn có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh từ ngày 24/4/2021 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất được quy định tại Hợp đồng là có cơ sở và phù hợp với quy định tại Điều 91 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010: “Tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật” nên có căn cứ chấp nhận.

- Xét trong quá trình giải quyết vụ án, ông Phong đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn không gửi văn bản để trình bày ý kiến và cũng không đến Tòa nên không ghi nhận được ý kiến của bị đơn.

- Về thời hạn và phương thức thanh toán: Xét thấy, do bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ được qui định trong hợp đồng tín dụng nên nguyên đơn yêu cầu trả một lần ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật là có cơ sở để chấp nhận. Kể từ ngày 24/4/2021 ông Phong còn phải tiếp tục trả lãi phát sinh trên số dư nợ gốc theo mức lãi suất hai bên thỏa thuận trong Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm Hợp đồng số 8743146 ngày 19/01/2018 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ.

Về án phí dân sự sơ thẩm:

Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên ông Phạm Thanh Phong phải chịu án phí trên số tiền phải trả cho nguyên đơn là 25.014.594 đồng x 5% = 1.250.730 đồng.

Hoàn trả toàn bộ số tiền tạm ứng án phí là 470.766 đồng cho Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín .

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 36; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 3; khoản 1 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

- Điều 351, Điều 357, Điều 463, Điều 466 Điều 468 Bộ Luật Dân Sự năm 2015; Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;

- Điều 6; điểm b khoản 1 Điều 24; khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/NQUBTVQH14 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn - Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín.

Buộc ông Phạm Thanh Phong có trách nhiệm trả cho Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín số nợ của Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm Hợp đồng số 8743146 ngày 19/01/2018 là 25.014.594 đồng, trong đó nợ gốc là 17.552.781 đồng, lãi quá hạn là 7.461.813 đồng.

Thời hạn thanh toán: Một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Kể từ ngày 24/4/2021, ông Phong còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm Hợp đồng số 8743146 ngày 19/01/2018 giữa Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn Thương tín với ông Phạm Thanh Phong cho đến khi thanh toán xong các khoản nợ.

Thi hành tại Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

2. Án phí dân sự sơ thẩm:

Ông Phạm Thanh Phong phải chịu án phí là 1.250.730 (một triệu hai trăm năm mươi nghìn bảy trăm ba mươi) đồng.

Hoàn trả toàn bộ số tiền tạm ứng án phí là 470.766 (bốn trăm bảy mươi sáu nghìn bảy trăm sáu mươi sáu) đồng cho Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0071174 ngày 20/10/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Phú.

Thi hành tại Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

3. Quyền kháng cáo:

Ngân hàng Thương mại cổ phần Việt Nam Thịnh Vượng, ông Phạm Thanh Phong được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người thi hành án dân sự , người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6; 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ