- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn, nuôi con giữa chị Đinh Thị Y và anh Nguyễn Đăng H"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đinh Thị Y đối với anh Nguyễn Đăng H về việc ly hôn, nuôi con.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH BÌNH DƢƠNG Bản án số: 111/2020/HNGĐ-ST Ngày 14-9-2020 V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngân.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Kim Hoa;
2. Ông Từ Anh Tuấn.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Mai - Thƣ ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Xuân Tình - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 9 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 456/2020/TLST-HNGĐ ngày 29 tháng 5 năm 2020 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số: 128/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 07 tháng 8 năm 2020, giữa các đƣơng sự:
- Nguyên đơn: Chị Đinh Thị Y, sinh năm 1984; thƣờng trú: 124/4B, khu phố Đ, phƣờng T, thành phố D, tỉnh B. Có mặt.
- Bị đơn: Anh Nguyễn Đăng H, sinh năm 1975; thƣờng trú: 174/35, khu phố 3, phƣờng T, thành phố B, tỉnh Đ; tạm trú: 124/4B, khu phố Đ, phƣờng T, thành phố D, tỉnh B. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 28-10-2019, lời khai trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa, nguyên đơn chị Đinh Thị Y trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Đinh Thị Y và anh Nguyễn Đăng H tìm hiểu nhau một thời gian rồi đăng ký kết hôn tại UBND phƣờng T, thành phố D, tỉnh B năm 2004 và đƣợc cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 96, ngày 01/6/2004.
Vợ chồng sống chung hạnh phúc đƣợc một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung nên thƣờng xuyên xảy ra cãi vã. Anh H bộc lộ tính cách khó chịu, gia trƣởng, quản lý mọi sinh hoạt và chi tiêu trong gia đình một cách vô lý, ngoài ra sau khi nhậu nhẹt về anh H có lời lẽ xúc phạm, đóng cửa đánh chị Y gây ảnh hƣởng tới tâm lý của các con. Anh chị đã ly thân đƣợc hai năm nay, vợ chồng không còn quan tâm, chia sẻ lẫn nhau.
Nay chị Y xác định không còn tình cảm với anh H, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với anh H.
- Về con chung: Quá trình chung sống chị và anh H có hai con chung là Nguyễn Minh Đ, sinh ngày 27/6/2005 và Nguyễn Hoàng Minh T, sinh ngày 12/5/2014. Theo đơn khởi kiện, chị Y yêu cầu trực tiếp nuôi dƣỡng 02 con chung và không yêu cầu anh H cấp dƣỡng nuôi con chung. Quá trình tố tụng và tại phiên tòa chị Y đề nghị đƣợc trực tiếp nuôi dƣỡng con chung là Nguyễn Hoàng Minh T, giao con chung là Nguyễn Minh Đ cho anh H trực tiếp nuôi dƣỡng, không ai phải cấp dƣỡng nuôi con.
- Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Chị Y không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Theo bản tự khai ngày 17/6/2020, bị đơn anh Nguyễn Đăng H trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị Y có thời gian tìm hiểu nhau khoảng 02 năm thì tiến tới hôn nhân, đăng ký kết hôn tại UBND phƣờng T, thành phố B tỉnh Đ. Sau khi kết hôn vợ chồng sinh sống tại B một thời gian rồi sống tại nhà mẹ vợ tại thành phố D cho đến nay. Qúa trình chung sống vợ chồng có mâu thuẫn nhƣng không đáng kể. Nay chị Y yêu cầu ly hôn thì anh H không đồng ý.
- Về con chung: Anh và chị Y có 02 con chung là Nguyễn Minh Đ, sinh ngày 27/6/2005 và Nguyễn Hoàng Minh T, sinh ngày 12/5/2014. Anh mong hai vợ chồng đoàn tụ để cùng nhau nuôi con. Trƣờng hợp chị Y kiên quyết yêu cầu ly hôn thì anh mong muốn đƣợc trực tiếp nuôi dƣỡng 02 con chung, yêu cầu chị Y cấp dƣỡng 5.000.000 đồng/tháng/2 con.
- Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Anh H không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Kết quả xác minh tại khu phố Đ, phường T thể hiện: Quá trình chung sống chị Y và anh H có xảy ra cãi vã, cuộc sống chung không êm ấm, hòa thuận. Về nguyên nhân mâu thuẫn thì không rõ.
Kết quả xác minh tại Hội liên hiệp phụ nữ phường T, thành phố D, tỉnh B: Hội không nhận đƣợc đơn yêu cầu hòa giải quan hệ hôn nhân và cũng không nhận đƣợc phản ánh từ cơ sở về mâu thuẫn giữa anh Nguyễn Đăng H và chị Đinh Thị Y.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trƣớc thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thƣ ký phiên tòa và nguyên đơn đã chấp hành đúng pháp luật về tố tụng dân sự. Bị đơn đã đƣợc Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa nhƣng vắng mặt không có lý do, căn cứ vào các điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là đúng quy định. Về nội dung vụ án: Căn cứ các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ chấp nhận, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đƣợc thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát tham gia phiên tòa, Tòa án nhận định:
[1] Về việc vắng mặt của đƣơng sự: Anh Nguyễn Đăng H đã đƣợc Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa lần thứ hai nhƣng vắng mặt không có lý do, căn cứ vào các điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh H.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Y và anh H có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phƣờng T, thành phố B, tỉnh Đ và đƣợc cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 96, ngày 01/6/2004 nên đây là hôn nhân hợp pháp. Chị Y xác định quá trì nh chung số ng vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc. Xét thấy mục đích của hôn nhân là nhằm xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, hạnh phúc; để đạt đƣợc mục đích đó vợ chồng cần phải thƣơng yêu, tin tƣởng, quý trọng, chăm sóc, cùng nhau vun đắp, giúp đỡ, tạo điều kiện cho nhau phát triển về mọi mặt. Đây cũng là nghĩa vụ của vợ, chồng đƣợc quy định tại Điều 19, Điều 21 Luật Hôn nhân và gia đình. Việc chị Y cho rằng hai anh chị thƣờng xảy ra cãi vã, cuộc sống chung không hòa thuận phù hợp với kết quả xác minh tại địa phƣơng, lời khai của con chung là cháu Nguyễn Minh Đ. Anh H có bản tự khai khẳng định vợ chồng không mâu thuẫn gì đáng kể và vì con nên không đồng ý ly hôn. Tuy nhiên, quá trình tố tụng Tòa án triệu tập anh H tham gia các buổi hòa giải nhƣng anh H vắng mặt không có lý do, không đƣa ra phƣơng hƣớng để hàn gắn tình cảm vợ chồng, Tòa án không thể tiến hành hòa giải đoàn tụ cho anh chị. Chị Y và anh H mặc dù sống chung nhƣng chị Y không còn tình cảm với anh H, vợ chồng mạnh ai nấy sống. Mâu thuẫn giữa chị Y và anh H đã thực sự trầm trọng, cuộc sống chung không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt đƣợc. Nếu tiếp tục duy trì cuộc sống chung không hòa thuận, hạnh phúc có thể ảnh hƣởng không tốt tới tâm lý các con chung. Do đó, chị Y yêu cầu đƣợc ly hôn với anh H là có căn cứ chấp nhận, phù hợp với quy định tại Điều 51 và Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
Về con chung: Anh H và chị Y thống nhất vợ chồng có 02 con chung là Nguyễn Minh Đ, sinh ngày 27/6/2005 và Nguyễn Hoàng Minh T, sinh ngày 12/5/2014. Khi Tòa án giải quyết việc ly hôn cần xem xét đến sự phát triển của con chƣa thành niên để quyết định việc giao con cho cha hay mẹ trực tiếp nuôi dƣỡng. Xét thấy, anh H yêu cầu đƣợc trực tiếp nuôi dƣỡng cả hai con chung, chị Y yêu cầu đƣợc nuôi dƣỡng cháu T, không yêu cầu cấp dƣỡng. Quá trình tố tụng Tòa án đã thông báo yêu cầu anh H cung cấp chứng cứ về mức thu nhập hiện tại nhƣng anh không cung cấp. Cháu Đ hiện 15 tuổi, giới tính là nam, đồng thời chị Y tự nguyện giao cháu Đ cho anh H trực tiếp nuôi dƣỡng và cũng phù hợp với nguyện vọng đƣợc nuôi con của anh H. Do đó việc giao cháu Đ cho anh H trực tiếp nuôi dƣỡng là có căn cứ. Đối với cháu T còn nhỏ, giới tính là nữ, chị Y cung cấp chứng cứ thể hiện mức thu nhập trung bình hàng tháng trên 6.000.000 đồng, đủ khả năng trực tiếp nuôi con, do đó cần giao cháu T cho chị Y trực tiếp nuôi dƣỡng. Về cấp dƣỡng nuôi con, do anh H và chị Y đều trực tiếp nuôi con chung nên việc anh H yêu cầu chị Y cấp dƣỡng nuôi con là không phù hợp, ý kiến của chị Y không yêu cầu anh H cấp dƣỡng nuôi cháu T và chị không cấp dƣỡng nuôi cháu Đ là có căn cứ theo quy định tại Điều 81, 82 Luật Hôn nhân và gia đình.
Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Đƣơng sự không yêu cầu nên Tòa án không xem xét, giải quyết.
Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và chấp nhận đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Đinh Thị Y phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147 và các Điều 227, 228, 266, 271 và 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự; các Điều 51, 56, 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đinh Thị Y đối với anh Nguyễn Đăng H về việc ly hôn, nuôi con.
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Đinh Thị Y đƣợc ly hôn với anh Nguyễn Đăng H (Giấy chứng nhận kết hôn số 96, ngày 01/6/2004 do UBND phƣờng T, thành phố B, tỉnh Đ cấp).
- Về con chung: Chị Đinh Thị Y giao con chung là Nguyễn Minh Đ, sinh ngày 27/6/2005 cho anh Nguyễn Đăng H trực tiếp chăm sóc, nuôi dƣỡng. Anh Nguyễn Đăng H giao con chung là Nguyễn Hoàng Minh T, sinh ngày 12/5/2014 cho chị Đinh Thị Y trực tiếp chăm sóc, nuôi dƣỡng.
Về cấp dƣỡng nuôi con: Chị Đinh Thị Y và anh Nguyễn Đăng H không phải thực hiện nghĩa vụ cấp dƣỡng nuôi con chung.
Sau ly hôn, chị Đinh Thị Y và anh Nguyễn Đăng H đều có quyền chăm sóc, thăm nom, giáo dục con, không ai có quyền cản trở anh, chị thực hiện quyền này. Trƣờng hợp chị Y, anh H lạm dụng việc đi lại, thăm nom con gây ảnh hƣởng xấu đến việc nuôi con thì anh, chị có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con theo quy định của pháp luật. Vì lợi ích về mọi mặt của con khi một hoặc cả hai bên đƣơng sự có yêu cầu, Tòa án sẽ quyết định thay đổi ngƣời trực tiếp nuôi con và việc cấp dƣỡng.
- Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Đƣơng sự không yêu cầu nên Tòa án không xem xét, giải quyết.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Đinh Thị Y phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí ly hôn, đƣợc khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0008260 ngày 07/02/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.
3. Nguyên đơn đƣợc quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mƣời lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt đƣợc quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mƣời lăm) ngày, kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc bản án đƣợc tống đạt hợp lệ.
Trƣờng hợp bản án, quyết định đƣợc thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì ngƣời đƣợc thi hành án dân sự, ngƣời phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cƣỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án đƣợc thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Dƣơng; - VKSND thành phố Dĩ An; - Chi cục THADS thành phố Dĩ An; - UBND phƣờng T, thành phố B, tỉnh Đ; - Đƣơng sự; - Lƣu: VP, HSVA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Ngân |