vanban.org

Bản án 111/2020/HNGĐ-ST — Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn — án hôn nhân và gia đình — "chị H yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn"
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ CAI LẬY
TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 111/2020/HNGĐ-ST
Ngày: 21 /12/2020
V/v: tranh chấp thay đổi người trực
tiếp nuôi con sau khi ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CAI LẬY, TỈNH TIỀN GIANG

- THnh phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Hồ Thị Ánh Tuyết. Các Hội thẩm nhân dân:

1/- Bà Lý Thị Bé Năm;

2/- Ông Huỳnh Ngọc Trứ.

- Thư ký phiên tòa: bà Tăng Thị Điền – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa: bà Nguyễn Thị Liễu – kiểm sát viên. Trong ngày 21 tháng 12 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Cai Lậy xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 314/2020/TLST- HNGĐ ngày 08 tháng 10 năm 2020, về việc “tranh chấp thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 113/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 16 tháng 11 năm 2020, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: chị Lưu Thị H, sinh năm 1977. Địa chỉ: khu phố M, phường N, thị xã C, tỉnh Tiền Giang.

- Bị đơn: anh Nguyễn Ngọc A, sinh năm 1986. Địa chỉ: khu phố M, phường N, thị xã C, tỉnh Tiền Giang. Chị H có mặt, anh A vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Theo đơn khởi kiện của nguyên đơn chị Lưu Thị H trình bày: Ngày 21/8/2019, chị và anh Nguyễn Ngọc A tự nguyện thuận tình ly hôn và thỏa thuận giao 01 co chung tên Nguyễn Văn Trường S sinh ngày 20/6/2015 cho anh A trực tiếp nuôi dưỡng. Sau khi ly hôn, anh A không chăm sóc con chung và không cho đi học và ngăn cản không cho chị thăm nom, chăm sóc con chung. Chị có yêu cầu anh A giao con chung cho chị nuôi thì anh A yêu cầu đưa tiền anh trả nợ rồi anh giao con. Nhận thấy anh A không có trách nhiệm chăm sóc, nuôi dưỡng con chung chu đáo, bản thân anh A thường xuyên tham gia cờ bạc dẫn đến nợ nần, không quan tâm, chăm sóc con, hay vắng nhà nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết: giao con chung tên Nguyễn Văn Trường S sinh ngày 20/6/2015 cho chị trực tiếp nuôi dưỡng, chị không yêu cầu anh A cấp dưỡng cho con.. * Bị đơn anh Nguyễn Ngọc A không có văn bản thể hiện ý kiến của nguyên đơn và vắng mặt tại phiên hòa giải. Tại phiên tòa:

- Nguyên đơn, chị Lưu Thị H giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.

- Bị đơn anh Nguyễn Ngọc A vắng mặt không lý do.

- Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa xác định: Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã chấp Hnh đúng qui định của Bộ luật Tố tụng dân sự chưa phát hiện vi phạm nên không kiến nghị gì. Về nội dung, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Căn cứ vào tài liệu và chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định: [1]. Anh Nguyễn Ngọc A là bị đơn đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vắng mặt tại phiên tòa không có lý do nên Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt anh A. [2]. Xét yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn của chị Lưu Thị H là có căn cứ chấp nhận, bởi lẽ:

- Chị Lưu Thị H và anh Nguyễn Ngọc A chung sống với nhau có 01 con chung tên Nguyễn Văn Trường S sinh ngày 20/6/2015. Tháng 8/2020, chị H và anh A đã ly hôn theo quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 141/2020/QĐST-HNGĐ ngày 31/8/2020 của Tòa án nhân dân thị xã Cai Lậy. Cháu Nguyễn Văn Trường S được giao cho anh Nguyễn Ngọc A trực tiếp nuôi dưỡng khi ly hôn.

- Kết quả xác minh, chị Nguyễn Thị Thúy K là chị ruột của anh A có nH ở gần nH anh A có lời trình bày xác định: sau khi anh A và chị H ly hôn thì cháu Nguyễn Văn Trường S sống chung với anh A được một thời gian thì giao lại cho chị H nuôi, lúc cháu S sống chung với anh A thì anh A thường xuyên gởi cho chị do A chạy xe ôm suốt ngày ở ngoài đường không có thời gian chăm sóc con.

- Anh A không có văn bản phản đối yêu cầu của chị H.

- Hiện tại chị H đang trực tiếp nuôi dưỡng cháu Trường S, bản thân chị H có nghề nghiệp và thu nhập ổn định. Nhằm đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của cháu Trường S, Hội đồng xét xử nghĩ nên giao cháu Trường S cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp theo quy định tại Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình. [3]. Về án phí: Anh A phải chịu án phí theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và khoản 1 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. [6]. Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử. Vì các lẽ trên.

QUYEÁT ÑÒNH:

* Căn cứ vào:

- Khoản 7 Điều 28, điểm b khoản 2 Điều 227; Khoản 1, 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Các Điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình;

- Khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. * Xử: 1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lưu Thị H. Giao cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nguyễn Văn Trường S sinh ngày 20/6/2015. Ghi nhận chị H không yêu cầu anh A cấp dưỡng cho con. Anh A có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được ngăn cản. 2. Án phí: Anh A phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Trả lại cho chị H số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0861 ngày 01/10/2020 tại Chi cục thi Hnh án dân sự thị xã Cai Lậy. 3. Quyền kháng cáo: Chị H có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử phúc thẩm. Anh A có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tống đạt hợp lệ bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử phúc thẩm. Nôi nhaän:

TM. HOÄI ÑOÀNG XEÙT XÖÛ SÔ THAÅM -TAND Tænh Tieàn Giang;

Thaåm phaùn – Chuû toaï phieân toaø -VKSND TX Cai Lậy;

- Chi cuïc THADS TX Cai Lậy;

- Caùc ñöông sự: H, A;

- Löu: HS, VT.

Hồ Thị Ánh Tuyết

Cỡ chữ