vanban.org

Bản án 111/2019/HSST — Hình sự

TAND TP. Nam Định, tỉnh Nam Định Tuyên án 18/04/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tiến S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Tiến S 27 (Hai bẩy) tháng tù. Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày 21-12-2018. Xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy số ma túy trong phong bì niêm phong số 1173/GĐKTHS và 01 thanh kiếm có vỏ màu đen dài khoảng 1,2 m và 01 con dao dài khoảng 20 cm đã cũ (Vật chứng có đặc điểm như bi… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Tiến S - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tiến S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ N
TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 111/2019/HSST
Ngày: 18-4-2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ N, TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Đức Nguyên.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Tiến Dũng.

Bà Nguyễn Thị Kim Chung.

- Thư ký phiên toà: Bà Lương Thị Kim Huế - Thẩm tra viên Toà án nhân dân thành phố N.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố N tham gia phiên tòa: Bà Vũ Ngọc Thư - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 4 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố N, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 106/2019/TLST-HS ngày 29 tháng 3 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 106/2019/QĐ-HSST ngày 05-4-2019 đối với bị cáo:

Nguyễn Tiến S, sinh năm 1977 tại tỉnh Hà Nam; nơi cư trú: Số 12 đường T, phường H, thành phố P, tỉnh Hà Nam: nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hoá: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn N (Đã chết) và bà Trần Thị T; có vợ Lê Thị Minh H và 01 con sinh năm 1999; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 06-01-2004 đi cơ sở chữa bệnh bắt buộc thời hạn 02 năm; ngày 13-6-2007, Toà án nhân dân tỉnh Hà Nam xử phúc thẩm phạt 12 tháng tù về tội “Giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”; ngày 05-9-2008, Công an tỉnh Hà Nam xử phạt vi phạm hành chính hình thức phạt tiền về hành vi “Đánh bạc”; ngày 14-7-2016, Công an thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam xử phạt vi phạm hành chính hình thức phạt tiền về hành vi “Xâm hại sức khỏe người khác”; ngày 17-6-2017, Công an thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam xử phạt vi phạm hành chính hình thức phạt tiền về hành vi “Cố ý làm hư hỏng tài sản của người khác”; bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 21-12-2018 sau đó chuyển tạm giam đến nay tại Trại tạm giam Công an tỉnh Nam Định; bị cáo có mặt tại phiên toà.

Người làm chứng: Anh Bùi Thái H, anh Nguyễn Văn T (Anh H và anh T vắng mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 23 giờ ngày 20-12-2018, Tổ công tác Công an phường V, thành phố N làm nhiệm vụ tại khu vực trước cửa số nhà 95 đường T, phường V, thành phố N phát hiện Nguyễn Tiến S điều khiển xe ô tô biển kiểm soát A-06636 chở Trần Trọng P, sinh năm 1970, nơi cư trú số 194 N, phường T, thành phố N và Nguyễn Hoài M, sinh năm 1984, nơi cư trú số 11/196 đường M, xã M, thành phố N có biểu hiện nghi vấn nên đã tiến hành kiểm tra. Quá trình kiểm tra, S tự giác giao nộp từ trong túi quần sau bên phải của S 01 ví da bên trong có 01 túi nhỏ ni lông màu trắng. Tổ công tác đã thu giữ túi nhỏ trên, mở kiểm tra có chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng (S khai là 01 túi ma túy đá). Tổ công tác đã tiến hành niêm phong vật chứng, kiểm tra Phong và Minh không thu giữ, tạm giữ gì; kiểm tra xe ô tô của S, S tự giác giao nộp từ cốp xe 01 thanh kiếm có vỏ màu đen dài khoảng 1,2 m và 01 con dao dài khoảng 20 cm. Sau đó Tổ công tác đưa S, P, M và mời người làm chứng về trụ sở lập biên bản bắt người phạm tội quả tang theo quy định của pháp luật. Ngoài ra còn tạm giữ của S chiếc xe ô tô biển kiểm soát A-06636 đã cũ.

Bản kết luận giám định số 1173/GĐKTHS ngày 28-12-2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định kết luận: Mẫu rắn dạng tinh thể màu trắng thu giữ của Nguyễn Tiến S được niêm phong gửi giám định là ma túy. Loại ma túy Methamphetamine. Khối lượng mẫu 0,433 gam.

Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Tiến S đã khai nhận hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng và nguồn gốc số ma túy như sau: Khoảng 8 giờ ngày 20-12-2018, S điều khiển xe ô tô biển kiểm soát A-06636 một mình từ nhà đến khu vực ngã ba Hồng Phú, thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam gặp và mua của một nam thanh niên (Không rõ lai lịch) đang đứng trên vỉa hè 01 túi ma túy đá với giá 300.000 đồng. S cho túi ma túy đá vừa mua được vào ví rồi cất ví vào trong túi quần sau bên phải để sử dụng sau. Khoảng 18 giờ cùng ngày, P gọi điện cho S đến nhà P để thuê xe taxi của S đi công việc. S đồng ý, rồi điều khiển xe ô tô đón P và M (S không nói cho P và M biết việc S tàng trữ trái phép chất ma túy) đi đến thị trấn Nam Giang, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định. Đến khoảng 23 giờ cùng ngày, S chở P và M về. Khi đi đến trước cửa số nhà 95 đường T, phường V, thành phố N thì bị phát hiện, bắt giữ như đã nêu trên.

Đối với Trần Trọng P và Nguyễn Hoài M khai không biết và không liên quan đến hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của Nguyễn Tiến S.

Bản cáo trạng số 106/CT-VKS ngày 27-3-2019 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố N truy tố Nguyễn Tiến S về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại Điểm c Khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, bị cáo Nguyễn Tiến S xác nhận trong quá trình điều tra, truy tố không bị Cơ quan tiến hành tố tụng ép cung, bức cung hay nhục hình. Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như bản cáo trạng đã nêu là đúng và khai nhận biết rõ hành vi cất giữ trái phép ma túy là vi phạm pháp luật, bị Nhà nước nghiêm cấm nhưng do nghiện ma túy nên đã tàng trữ ma túy với mục đích để sử dụng cho bản thân. Bị cáo không khai báo thêm tình tiết mới và ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội của mình.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố N luận tội và tranh luận: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo và thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Vì vậy, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Nguyễn Tiến S theo toàn bộ nội dung bản cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tiến S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

- Áp dụng Điểm c Khoản 1 Điều 249, Điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự: Phạt bị cáo từ 27 tháng đến 33 tháng tù về tội; miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

- Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận. Bị cáo nói lời sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, Người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, Người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Tiến S có trong hồ sơ vụ án và quá trình tranh tụng tại phiên tòa, bị cáo đều thừa nhận hành vi phạm tội của mình, không có sự mâu thuẫn và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác như biên bản bắt người phạm tội quả tang; biên bản thu giữ vật chứng; bản kết luận giám định của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định; lời khai của những người làm chứng nên đã có đủ cơ sở kết luận khoảng 23 giờ ngµy 20-12-2018, t¹i khu vùc trước cửa số nhà 95 đường T, phường V, thành phố N, bị cáo Nguyễn Tiến S ®· có hành vi tàng trữ trái phép 0,433 gam Methamphetamine để sử dụng thì bị phát hiện, bắt giữ. Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, gây mất trật tự an ninh xã hội trên địa bàn thành phố N, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực hành vi trách nhiệm hình sự, biết rõ hành vi tàng trữ ma túy của mình là vi phạm pháp luật, bị Nhà nước nghiêm cấm nhưng vẫn cố ý thực hiện. Như vậy, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, việc truy tố và đưa ra xét xử bị cáo theo Điểm c Khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự là đúng người đúng tội.

Các tình tiết Hội đồng xét xử sẽ xem xét khi Quyết định hình phạt đối với bị cáo:

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra và tại phiên toà hôm nay, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội của mình; anh trai của bị cáo là liệt S nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nhưng là người có nhân thân xấu.

Từ những phân tích, đánh giá nêu trên đối với hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn để cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm giáo dục, cải tạo bị cáo và góp phần phòng ngừa chung.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo tàng trữ ma túy mục đích để sử dụng cho bản thân nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: 01 gói ma túy trong phong bì niêm phong số 1173/GĐKTHS là vật Nhà nước cấm tàng trữ, 01 thanh kiếm có vỏ màu đen dài khoảng 1,2 m và 01 con dao dài khoảng 20 cm đã cũ thu giữ của bị cáo không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

Đối với đối tượng đã bán gói ma túy cho Nguyễn Tiến S, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố N chưa đủ căn cứ kết luận nên tách ra tiếp tục điều tra xử lý sau là phù hợp với quy định của pháp luật.

Đối với hành vi tàng trữ trái phép vũ khí thô sơ gồm 01 thanh kiếm có vỏ màu đen dài khoảng 1,2 m và 01 con dao dài khoảng 20 cm của Nguyễn Tiến S, Công an thành phố N đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính.

Đối với Trần Trọng P và Nguyễn Hoài M, do không biết việc S tàng trữ trái phép chất ma túy, nên Cơ quan điều tra không đưa ra hình thức xử lý.

Đối với chiếc ô tô biển kiểm soát A-06636 xét không liên quan đến vụ án, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố N đã trả lại cho chủ sở hữu là bà Trần Thị T (Là mẹ của bị cáo) sinh năm 1944, nơi cư trú số 12 đường T, phường H, thành phố P, tỉnh Hà Nam.

Về án phí: Bị cáo bị kết án nên phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào Điểm c Khoản 1 Điều 249, Điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51, Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tiến S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Tiến S 27 (Hai bẩy) tháng tù. Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày 21-12-2018.

2. Xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy số ma túy trong phong bì niêm phong số 1173/GĐKTHS và 01 thanh kiếm có vỏ màu đen dài khoảng 1,2 m và 01 con dao dài khoảng 20 cm đã cũ (Vật chứng có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng ngày 18-3-2019 giữa Công an thành phố N và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố N).

3. Án phí: Bị cáo Nguyễn Tiến S phải nộp 200.000 đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: Bị cáo Nguyễn Tiến S được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người phải thi hành án có quyền tự nguyện thi hành hoặc cưỡng chế thi hành án. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ