vanban.org

Bản án 111/2019/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Sơn Trà, TP Đà Nẵng Tuyên án 08/11/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Lê Duy C phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Lê Duy C 09 (Chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt ngày 16/8/2019 Án phí HSST: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hình sự - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lê Duy C phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN SƠN TRÀ CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 111/2019/HS-ST
Ngày: 08 - 11- 2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN S, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Đông Thanh

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Vũ Thị Lệ Thủy

2. Ông Nguyễn Văn Đích

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lành - Là Thư ký Tòa án nhân dân quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận S, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Ông Đặng Văn Anh - Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 11 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận S xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 110/2019/HS-ST ngày 24 tháng 10 năm 2019 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 110/2019/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 10 năm 2019, đối với bị cáo:

LÊ DUY C, (Tên gọi khác: Không); sinh năm 1993 tại T; nơi cư trú: Thôn M, xã M, huyện N, tỉnh T; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 1/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lê Duy H, sin năm 1965 và bà Phạm Thị T, sinh năm 1964; gia đình có hai anh em, bị cáo là con đầu.

- Tiền án, tiền sự: Không

- Về nhân thân: Ngày 21/02/2017, bị TAND thị xã T, tỉnh B xử phạt 07 tháng tù giam về tội: “Trộm cắp tài sản”.

- Bị cáo bị bắt ngày 16/8/2019, hiện đang bị tạm giam tại trại tạm giam CATP Đà Nẵng. Có mặt tại phiên tòa.

- Người bị hại:

+ Anh Hồ Văn P, sinh năm 1984; trú tại: Thôn Q, huyện M, tỉnh T. Vắng mặt.

+ Anh Vi Văn Q, sinh năm 1988; trú tại: Thôn Q, huyện M, tỉnh T. Vắng mặt.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Hoài N, sinh năm 1994; trú tại: Thôn H, xã Hòa N, huyện Hòa V. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 22 giờ 00 phút ngày 15/08/2019, sau khi nhậu với anh Vi Văn Q và Hồ Văn P thì Lê Duy C, anh Qvà anh P về ngủ ở lán trại trong công trình tại địa chỉ 216 Nguyễn Công T, phường A, quận S, TP. Đà Nẵng. Một lúc sau, Lê Duy C thức dậy thì thấy anh Q và P đang ngủ bên cạnh, có để 01 điện thoại di động màu đen, nhãn hiệu OPPO A71 và 01 điện thoại di động màu xanh đen, nhãn hiệu OPPO A1 bên cạnh chỗ ngủ nên C nảy sinh ý định trộm cắp 02 chiếc điện thoại này. C lấy trộm 01 điện thoại di động màu đen, nhãn hiệu OPPO A71 của anh P và 01 điện thoại di động màu xanh đen, nhãn hiệu OPPO A1 của anh Qrồi rời công trình và bắt xe đến đường tránh Nam H thuộc huyện Hòa V. Tại đây, C có hỏi bán điện thoại cho một người đàn ông hành nghề xe ôm nhưng do không có mật khẩu nên người này nghi ngờ đây là tài sản do phạm pháp mà có nên không đồng ý mua. Sau đó, người này nói với anh Nguyễn Hoài N giữ C lại rồi trình báo với lực lượng công an.

* Tang vật thu giữ :

- 01 (một) điện thoại di động màu đen, nhãn hiệu OPPO A71 (Đã trao trả cho anh Hồ Văn P);

- 01 (một) điện thoại di động màu xanh đen, nhãn hiệu OPPO A1 (Đã trao trả cho anh Vi Văn Q).

Tại Kết luận định giá số: 63/KL-HĐĐGTSTTHS ngày 21/8/2019 của Hội đồng định giá trong TTHS quận Sơn Trà xác định: 01 điện thoại di động màu đen, nhãn hiệu OPPO A71 có giá trị: 1.494.000 đồng; 01 điện thoại di động màu xanh đen, nhãn hiệu OPPO A1 có giá trị: 2.224.000 đồng. Tổng giá trị 02 điện thoại được định giá là: 3.718.000 đồng.

* Bồi thường dân sự: Anh Hồ Văn P và Vi Văn Q đã nhận lại tài sản bị mất, không yêu cầu bồi thường gì thêm.

Tại phiên tòa hôm nay, bị hại các anh Hồ Văn P, Vi Văn Q và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Hoài N vắng mặt nhưng căn cứ vào lời khai những người này trong hồ sơ vụ án đã được công bố tại phiên tòa có nội dung phù hợp với lời khai của các bị cáo.

Cáo trạng số 106/CT- VKS ngày 24/10/2019 của Viện Kiểm sát nhân dân quận S, thành phố Đà Nẵng đã truy tố bị can về tội:“Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát giữ quyền công tố luận tội, phát biểu giữ nguyên cáo trạng đã truy tố bị cáo và căn cứ vào tính chất, hành vi thực hiện tội phạm, nhân thân, tình tiết giảm nhẹ áp dụng đối với bị cáo, đề nghị HĐXX tuyên bố bị cáo Lê Duy C phạm tội: “Trộm cắp tài sản”, đồng thời đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Lê Duy C từ 09 tháng đến 12 tháng tù giam.

Về phần bồi thường dân sự:

Các anh Hồ Văn P và Vi Văn Q đã nhận lại tài sản bị mất, không yêu cầu bồi thường gì thêm nên không đề cập đến.

Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội và không có ý kiến tranh luận gì với phần luận tội của Kiểm sát viên.

Bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa nên không có ý kiến gì.

Lời nói sau cùng của của bị cáo: Bị cáo đã nhận thức rõ hành vi phạm tội của mình, có thái độ ăn năn hối cải và mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận S, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận S, thành phố Đà Nẵng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Qúa trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo; người bị hại và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cũng như các chứng cứ, tài liệu khác mà cơ quan điều tra đã thu thập có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 23 giờ ngày 15/8/2019, tại lán trại trong công trình xây dựng số 216 Nguyễn Công T, phường A, quận S, Lê Duy C đã có hành vi lén lút trộm cắp 01 điện thoại di động màu đen, nhãn hiệu OPPO A71 trị giá 1.494.000 đồng của anh Hồ Văn P và 01 điện thoại di động màu xanh đen, nhãn hiệu OPPO A1 trị giá 2.224.000 đồng của anh Vi Văn Q. Tổng giá trị tài sản trộm cắp là 3.718.000 đồng.

. Xét tính chất vụ án thì thấy: Lợi dụng sự sơ hở của bị hại cũng trong việc quản lý tài sản, Lê Duy C đã lén lút lấy trộm 01 điện thoại di động màu đen, nhãn hiệu OPPO A71 trị giá 1.494.000 đồng của anh Hồ Văn P và 01 điện thoại di động màu xanh đen, nhãn hiệu OPPO A1 trị giá 2.224.000 đồng của anh Vi Văn Q. Tổng giá trị tài sản trộm cắp là 3.718.000 đồng. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, gây mất trật tự trị an xã hội. Do đó cần xử phạt bị cáo với mức án tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo để giáo dục riêng, phòng ngừa chung.

. Xét nhân thân của bị cáo thì thấy:

Bị cáo có thân nhân xấu, đã từng bị xử phạt tù về hành vi: “Trộm cắp tài sản”, nhưng không lấy đó làm bài học tự rèn luyện, răn đe mình để trở thành người tốt mà ngược lại tiếp tục phạm tội mới. Điều này chứng tỏ rằng bị cáo đã bất chấp pháp luật nếu không có biện pháp cải tạo, giáo dục tốt thì dễ trở thành loại tội phạm chuyên nghiệp, gây nguy hiểm cho xã hội. Do đó, bị cáo phải chịu mức hình phạt tương xứng với hành vi của mình.

Tuy nhiên, tại phiên tòa hôm nay, bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn rõ ràng, tỏ ra biết ăn năn hối cải, thiệt hại xảy ra chưa đáng kể . Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình quy định tại điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

. Về trách nhiệm dân sự:

Tại phiên tòa, bị hại các anh Hồ Văn P và Vi Văn Q vắng mặt nhưng trong hồ sơ thể hiện đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm nên HĐXX không xem xét.

. Án phí HS.ST: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố: Bị cáo Lê Duy C phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.

1. Căn cứ: Khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự;

Xử phạt: Bị cáo Lê Duy C 09 (Chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt ngày 16/8/2019

2. Án phí HSST: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng.

Án xử công khai, bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được trích sao bản án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ