- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Văn Đ "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản" - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 174 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Văn Đ, giữ nguyên án sơ thẩm.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 174 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:111/2019/HS-PT Ngày: 13/6/2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Tấn Anh
Các Thẩm phán:
Bà Đỗ Thị Thúy Năng
Ông Trần Minh Long.
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Na – Thư ký Tòa án nhân dân TP Đà Nẵng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa:
Ông Lương Hồng Minh– Kiểm sát viên
Ngày13 tháng 6 năm 2019tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 61/2019/TLPT-HS ngày 25 tháng 4 năm 2019 đối vớibị cáo Trần Văn Đdo có kháng cáo của bị cáo Đ đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 27/2019/HS-ST ngày 21 tháng 3 năm 2019 của Tòa án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng.
- Bị cáo có kháng cáo:
Trần Văn Đ; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày 19 tháng 3 năm 1987 tại Đà Nẵng; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: 320/4 N, phường K, quận K, thành phố Đà Nẵng. Trình độ học vấn: 7/12. Nghề nghiệp: Thợ sơn. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không; Con ông: Trần Văn P (S) và bà Nguyễn Thị G (S). Tiền án, tiền sự: Chưa;
Bị cáo tại ngoại. Có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do có ý định chiếm đoạt tài sản nên Trần Văn Đ đã cùng với Hoàng Đình N (Không rõ lai lịch) thống nhất dùng thủ đoạn đăng tin lên mạng xã hội facebook rao bán xe mô tô, sau đó tìm một chìa khóa xe giả và chỉ vào xe người khác để người mua xe tin tưởng giao tiền rồi chiếm đoạt.
Vào ngày 3/7/2018 anh Nguyễn Văn T vào mạng xã hội thấy Đ, N đăng tin rao bán xe mô tô hiệu Exiceter với giá 8.000.000 đồng. T liên lạc và hai bên hẹn mua bán tại bệnh viện Đà Nẵng. Khi đến bãi xe bệnh viện, Đ chỉ vào 1 xe mô tô đang để trong bãi xe và nói giá 7.500.000 đồng nhưng không phải loại xe T cần nên T không mua. Đến chiều 5/7/2018, biết anh Đinh Văn D đang sử dụng một xe mô tô hiệu Winner nên Đ liên lạc với T thỏa thuận bán xe Winner với giá 8.000.000 đồng và hẹn gặp ở quán D tại 52 L, phường C 2, quận C, TPĐN mua bán.
Khoảng 18 giờ ngày 5/7/2018 Đ gọi điện cho anh D đến quán nhậu nói trên để nhậu, anh D điều khiển xe Winner màu đỏ, BKS 76T1-037.01 đến quán cùng nhậu với Đ và N. Khoảng 20 giờ cùng ngày, Đ và T ra sau quán, Đ đưa cho T 01 chiếc chìa khóa xe mô tô chỉ tay vào xe của anh D và nói là xe của Đ bán. Anh T tưởng thật nên đưa trước cho Đ 6.000.000 đồng, còn 2.000.000 đồng sẽ trả sau. Sau khi nhận tiền Đ và N lén rời khỏi quán, anh D và anh T không biết. Khoảng 15 phút sau, anh T lấy chìa khóa ra mở thử xe nhưng không được nên hỏi anh D thì mới biết xe này của anh D, sau đó báo toàn bộ sự việc với Cơ quan Công an.
Tại Bản án HSST số 27 ngày 21/3/2019 Tòa án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng đã quyết định:
Căn cứ: Khoản 1 Điều 174, điểm b, s khoản 1 Điều 51; Bộ luật hình sự năm 2015.
Xử phạt: Trần Văn Đ 09 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.
Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn quyết định về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo.
Ngày 04/4/2019, bị cáo trần Văn Đ có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt để được hưởng án treo.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng có quan điểm về việc giải quyết vụ án như sau: Đơn kháng cáo của các bị cáo Trần Văn Đ có đầy đủ nội dung theo thủ tục kháng cáo và nằm trong thời hạn kháng cáo nên đảm bảo hợp lệ. Về kháng cáo của bị cáoTrần Văn Đ, án sơ thẩm xử bị cáo Trần Văn Đ về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo Khoản 1 Điều 174 của Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng tội, đúng pháp luật. Bản án sơ thẩm cũng đã xem xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo, áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Trần Văn Đ 09 tháng tù tù là phù hợp. Sau khi xử sơ thẩm bị cáo cũng không có tình tiết giảm nhẹ gì mới. Do đó đề nghị Hội đồng xét xử, áp dụng điểm a khoản 1 điều 355 và Điều 356 của BLTTHS 2015 không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Văn Đ và giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Bị cáo Trần Văn Đ giữ nguyên nội dung kháng cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo.
Căn cứ các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên toà phúc thẩm; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáoTrần Văn Đ đã khai nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, do đó Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để xác định: Do có ý định chiếm đoạt tài sản nên Trần Văn Đ đã cùng với Hoàng Đình N (Không rõ lai lịch) thống nhất dùng thủ đoạn đăng tin lên mạng xã hội facebook rao bán xe mô tô, sau đó tìm một chìa khóa xe giả và chỉ vào xe người khác để người mua xe tin tưởng giao tiền rồi chiếm đoạt.
Chiều 5/7/2018, biết anh Đinh Văn D đang sử dụng một xe mô tô hiệu Winner nên Đ liên lạc với anh Nguyễn Văn T thỏa thuận bán xe Winner với giá 8.000.000 đồng và hẹn gặp ở quán D tại 52 L, phường C 2, quận C, TPĐN mua bán. Đến khoảng 18 giờ ngày 5/7/2018, Đ gọi điện cho anh D đến quán nhậu nói trên để nhậu, anh D điều khiển xe Winner màu đỏ, BKS 76T1-037.01 đến quán cùng nhậu với Đ và N. Khoảng 20 giờ cùng ngày, Đ và T ra sau quán, Đ đưa cho T 01 chiếc chìa khóa xe mô tô chỉ tay vào xe của anh D và nói là xe của Đ bán. Anh T tưởng thật nên đưa trước cho Đ 6.000.000 đồng, còn 2.000.000 đồng sẽ trả sau. Sau khi nhận tiền Đ và N lén rời khỏi quán, anh D và anh T không biết. Khoảng 15 phút sau, anh T lấy chìa khóa ra mở thử xe nhưng không được nên hỏi anh D thì mới biết xe này của anh D, sau đó báo toàn bộ sự việc với Cơ quan Công an.
Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy bản án sơ thẩm số 27/2019/HSST ngày 21/3/2019 của Tòa án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng đã xét xử bị cáo Trần Văn Đ về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
Xét kháng cáo của bị cáo Trần Văn Đ, Hội đồng xét xử xét thấy: Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác đồng thời gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an xã hội. Cấp sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo và xem xét, áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1điều 51 BLHS xử phạt bị cáo mức án 09 tháng tù là phù hợp, không nặng. Sau khi xét xử sơ thẩm bị cáo không có tình tiết giảm nhẹ mới. Vì vậy, HĐXX không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên án sơ thẩm như đề nghị của viện kiểm sát tại phiên tòa.
Các phần khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1.Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của BLTTHS 2015;
Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Văn Đ, giữ nguyên án sơ thẩm.
Căn cứ: Khoản 1 Điều 174, điểm b, s khoản 1Điều 51; Bộ luật hình sự năm 2015.
Xử phạt: Trần Văn Đ 09 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.
3. Về án phí: Căn cứ vào điểm b Khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, buộc bị cáo Trần Văn Đ phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự phúc thẩm.
4. Các phần quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: -Phòng HSNV-CA TP ĐN (PV27); - VKSND thành phố Đà Nẵng; - Vụ giám đốc kiểm tra 1; - Chi cục THADS quận Hải Châu; - VKSND quận Hải Châu; - TAND quận Hải Châu; - Công an quận Hải Châu; - Bị cáo; - Sở tư pháp TPĐN; - Lưu: HS; HCTP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Tấn Anh |