vanban.org

Bản án 111/2019/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Khánh Hòa Tuyên án 12/09/2019 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 12/09/2019 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng Hình sự,

Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trình Văn Th; sửa bản án sơ thẩm. Xử phạt bị cáo Trình Văn Th 09 (chín) tháng tù về tội “Trộm cắp tài Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trình Văn Th phạm tội "Trộm cắp tài sản" - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng Hình sự,
  • Căn cứ chính? Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật hình sự và phạm; Điều 173 Bộ luật Hình sự

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 111/2019/HS-PT

Ngày: 12/09/2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Trung Thành Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Tuấn Long Ông Phạm Đình Thanh - Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Sơn - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa. - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Ông Võ Văn Thành - Kiểm sát viên. Ngày 12 tháng 9 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 112/2019/TLPT- HS ngày 24 tháng 7 năm 2019 đối với bị cáo Trình Văn Th do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 15/2019/HS-ST ngày 06 tháng 5 năm 2019 của Tòa án nhân dân thành phố CR, tỉnh Khánh Hòa. Bị cáo có kháng cáo: Trình Văn Th;sinh năm 1990; tại Khánh Hòa; nơi cư trú: Thôn B, xã C, thành phố CR, tỉnh Khánh Hòa; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật giáo; nghề nghiệp: làm biển; trình độ học vấn: 9/12; con ông Trình Văn M sinh năm 1968 và bà Nguyễn Thị X sinh năm 1969; vợ: Ngô Thị Thanh Tr, sinh năm 2000; con: 01 con sinh năm 2019; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 05 tháng 8 năm 2019. Bị cáo có mặt tại phiên tòa. Ngoài ra trong vụ án có có bị cáo Võ Thị Thu C không có kháng cáo và không bị kháng cáo, kháng nghị. NỘI DUNG VỤ ÁN Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Trong khoảng thời gian từ ngày 19 tháng 01 năm 2018 đến ngày 19 tháng 6 năm 2018, Võ Thị Thu C và Trình Văn Th đã cùng nhau thực hiện 04 lần trộm cắp tài sản là 95 con tôm hùm xanh của bà Huỳnh Thị H. Cụ thể:

Lần thứ nhất: Ngày 19 tháng 01 năm 2018, C nói Th bắt trộm 20 con tôm hùm xanh. Th lặn xuống 02 lồng nuôi tôm, bắt mỗi lồng là 10 con tôm, trọng lượng trung bình 250 gram/01 con. Sau đó Th bán cho anh Nguyễn Ngọc H được 3.500.000 đồng. C cho Th số tiền 500.000 đồng. Lần thứ hai: Ngày 30 tháng 01 năm 2018, C nói Th bắt trộm 30 con tôm hùm xanh. Th lặn xuống 02 lồng nuôi tôm, bắt mỗi lồng là 15 con tôm, trọng lượng trung bình 250 gram/01 con. Sau đó Th bán cho anh Nguyễn Ngọc H được 5.325.000 đồng. C cho Th số tiền 500.000 đồng. Lần thứ ba: Ngày 10 tháng 02 năm 2018, C nói Th bắt trộm 20 con tôm hùm xanh. Th lặn xuống 02 lồng nuôi tôm, bắt mỗi lồng là 10 con tôm, trọng lượng trung bình 250 gram/01 con. Sau đó Th bán cho anh Nguyễn Ngọc H được 3.550.000 đồng. C cho Th số tiền 500.000 đồng. Lần thứ tư: Ngày 19 tháng 6 năm 2018, C nói Th bắt trộm 30 con tôm. Th lặn xuống 02 lồng nuôi tôm, bắt mỗi lồng lần lượt là 10 và 15 con tôm, trọng lượng trung bình 248 gram/01 con. Sau đó Th bán cho anh Nguyễn Ngọc H được 4.402.000 đồng. C cho Th số tiền 500.000 đồng. Tại Bản kết luận giám định số 152 ngày 23 tháng 11 năm 2018 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố CR kết luận: Tổng giá trị 95 con tôm hùm xanh mà Trình Văn Th và Võ Thị Thu C trộm cắp là 16.827. 000 đồng (Mười sáu triệu tám trăm hai mươi bảy nghìn đồng). Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 15/2019/HS-ST ngày 06 tháng 5 năm 2019 của Tòa án nhân dân thành phố CR, tỉnh Khánh Hòa đã quyết định: - Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 2 Điều 52 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Võ Thị Thu C. Xử phạt bị cáo Võ Thị Thu C 01 (một) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”; thời hạn tù tính từ ngày bắt đi thi hành án. - Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Trình Văn Th. Xử phạt bị cáo Trình Văn Th 01 (một) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”;thời hạn tù tính từ ngày bắt đi thi hành án. Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về vật chứng, án phí sơ thẩm và quyền kháng cáo. Ngày 17 tháng 5 năm 2019, bị cáo Trình Văn Th có đơn kháng cáo đề nghị cấp phúc thẩm cho bị cáo được hưởng án treo. Tại phiên tòa phúc thẩm: - Bị cáo Trình Văn Th giữ nguyên nội nội dung kháng cáo xin được hưởng án treo và bổ sung kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt. - Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án: Cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Trình Văn Th về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng tội. Cấp sơ thẩm đã áp dụng đầy đủ

các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, xử phạt Trình Văn Th 01 (một) năm tù là phù hợp. Tại phiên tòa phúc thẩm không còn tình tiết giảm nhẹ nào khác. Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trình Văn Th, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định: [1] Kháng cáo của bị cáo Trình Văn Th trong thời hạn quy định của pháp luật nên hợp lệ. [2] Lời khai nhận của bị cáo Trình Văn Th tại phiên tòa phúc thẩm phù hợp với lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra, tại phiên tòa sơ thẩm và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đã có đủ cơ sở để kết luận: Trong khoảng thời gian từ ngày 19 tháng 01 năm 2018 đến ngày 19 tháng 6 năm 2018, Võ Thị Thu C và Trình Văn Th đã cùng nhau thực hiện 04 lần hành vi trộm cắp tài sản là 95 con tôm hùm xanh của bà Huỳnh Thị H với tổng trị giá là 16.827.000 đồng (Mười sáu triệu tám trăm hai mươi bảy nghìn đồng). Hành vi của bị cáo đã có đủ yếu tố để cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Tòa án cấp sơ thẩm xét xử các bị cáo Võ Thị Thu C và Trình Văn Th về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội. Tòa án cấp sơ thẩm cũng đã áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự như thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự và phạm tội nhiều lần theo điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Trình Văn Th. [3] Đối với kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Trình Văn Th: Hội đồng xét xử nhận thấy bị cáo Võ Thị Thu C là người khởi xướng việc trộm cắp tài sản và cũng là người phân chia tiền có được do thực hiện tội phạm; bị cáo Trình Văn Th là người thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo Trình Văn Th là hạn chế hơn so với bị cáo Võ Thị Thu C nên chấp nhận kháng cáo, giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo Trình Văn Th. [4] Đối với kháng cáo xin được hưởng án treo của bị cáo Trình Văn Thịnh: Hội đồng xét xử nhận thấy theo quy định tại khoản 5 Điều 3 Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 5 năm 2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự về án treo thì người phạm tội nhiều lần thuộc trường hợp không cho hưởng án treo.Vì vậy, không chấp nhận kháng cáo xin được hưởng án treo của bị cáo Trình Văn Th. [5] Về án phí: Bị cáo Trình Văn Th không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm do kháng cáo được chấp nhận một phần. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 343, điểm b khoản 1 và khoản 2 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng Hình sự, 1. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trình Văn Th; sửa bản án sơ thẩm. - Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1Điều 51; điểm g khoản 1 điều 52 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Trình Văn Th. - Xử phạt bị cáo Trình Văn Th 09 (chín) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án. 2. Căn cứ điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, bị cáo Trình Văn Th không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm. 3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (ngày 12 tháng 9 năm 2019). TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Cỡ chữ