- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Chí M - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
- Căn cứ chính? Điều 134 Bộ luật Hình sự; Điều 17 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 111/2019/HS-PT Ngày: 09-7-2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Ngọc Thạch;
Các Thẩm phán:
Ông Nguyễn Huỳnh Đức;
Ông Hoàng Huy Toàn.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thùy – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương Dung - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 7 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương mở phiên tòa phúc thẩm công khai xét xử vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 97/2019/TLPT-HS ngày 17 tháng 5 năm 2019 đối với bị cáo Trần Chí M. Do có kháng cáo của bị cáo Trần Chí M đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 08/2019/HS-ST ngày 09/4/2019 của Toà án nhân dân huyện I, tỉnh Bình Dương.
Bị cáo kháng cáo: Trần Chí M (tên gọi khác M Heo), sinh năm 1996 tại tỉnh Bình Thuận; hộ khẩu thường trú: Tổ dân phố 8, khu phố A, thị trấn B, huyện C, tỉnh Bình Thuận; tạm trú: Khu phố 5, thị trấn D, huyện Đ, tỉnh Kiên Giang; giới tính: Nam; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: 5/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Chí D, sinh năm 1965 và bà Võ Thị Ngọc H, sinh năm 1967; bị cáo chưa có vợ, con; có 01 anh ruột sinh năm 1986, 01 em ruột sinh năm 2001. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 03/12/2018 cho đến nay; có mặt.
Trong vụ án còn có 01 bị hại và 04 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không kháng cáo, không bị kháng nghị nên Tòa án không triệu tập tham gia phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 19 giờ 00 phút ngày 23/11/2015, Nguyễn Huỳnh A sinh năm 1990 tổ chức uống rượu tại nhà thuộc ấp G, xã H, huyện I, tỉnh Bình Dương cùng với bạn gồm: Nguyễn Đăng Ba P, sinh năm 1993; Nguyễn Thanh H, sinh năm 1998 cùng ngụ tại ấp G, xã H, huyện I, tỉnh Bình Dương; Phạm L sinh năm 1991 ngụ tại khu phố 4A, thị trấn I, huyện I, tỉnh Bình Dương; Lê Trương Q sinh năm 1996 ngụ tại ấp Bàu Dầu, xã Định An, huyện I, tỉnh Bình Dương; đối tượng Cu Lin, Hải Gù (chưa xác định được nhân thân, lai lịch cụ thể) và Trần Chí M.
Đến khoảng 20 giờ 00 phút cùng ngày, Võ Quốc B sinh năm 1997 ngụ tại ấp ĐP, xã ĐH, huyện I, tỉnh Bình Dương điện thoại cho P thách thức và hẹn P đến khu vực làng 5 thuộc ấp ĐP, xã ĐH, huyện I, tỉnh Bình Dương để đánh nhau với B (P và B có mâu thuẫn với nhau từ trước). Nghe vậy, P đồng ý và rủ Huỳnh A, H, L, Q, M, Cu Lin, Hải Gù đi cùng P để đánh nhau với B thì tất cả đồng ý. Q điều khiển xe mô tô hiệu Wave S, màu đen, biển số 61H1-206.34 chở L ngồi sau cầm một khúc cây củi cao su dài khoảng 1 mét. H điều khiển xe mô tô hiệu Sirius, màu đỏ - đen, không rõ biển số, chở Cu Lin và P ngồi sau, P cầm 01 con dao cạo đục có cán bằng cây tầm vông dài khoảng 1,5m. Hải Gù điều khiển xe mô tô hiệu Mio, biển số 61B1-145.33 chở M và Huỳnh A ngồi sau, Huỳnh A cầm 01 con dao chặt củi, cán bằng gỗ dài khoảng 60cm, M cầm 01 khúc cây tầm vong dài khoảng 1,5m chạy đến khu vực làng 5 thuộc ấp ĐP, xã ĐH, huyện I, tỉnh Bình Dương để gặp B. Khi nhóm của M chạy đến trước nhà của Lê Nguyễn Minh N sinh năm 1998 ngụ tại ấp ĐP, xã ĐH, huyện I, tỉnh Bình Dương, P thấy trong nhà N đang tổ chức tiệc sinh nhật, P nghĩ sẽ có B dự tiệc nên kêu Huỳnh A, H, L, Q, M, Cu Lin, Hải Gù dừng xe. P cầm 01 con dao cạo đục có cán bằng cây tầm vong dài khoảng 1,5m và Huỳnh A cầm dao chặt củi dài khoảng 60cm chạy đến chỗ N và bạn của N đang ngồi để tìm đánh B. L, Q, H, M, Hải Gù và Cu Lin đứng bên ngoài đợi và cảnh giới. Lúc này, N và bạn của N thấy P và Huỳnh A cầm hung khí xông vào nên tất cả bỏ chạy. Huỳnh A cầm dao chạy đuổi theo N, khi đến phòng ngủ, Huỳnh A dùng tay phải cầm dao chém 01 cái vào người N, N đưa tay trái lên đỡ thì bị chém trúng mu bàn tay trái gây thương tích. N tiếp tục bỏ chạy vào trong phòng ngủ và đóng cửa lại thì Huỳnh A chạy theo dùng dao chém 01 cái làm vỡ cửa kính phòng ngủ. Sau khi gây án, Huỳnh A và P chạy ra chỗ L, Q, H, M, Hải Gù và Cu Lin đứng đợi trước cổng nhà N sau đó tất cả điều khiển xe chạy về nhà của Q. Trên đường chạy về nhà Q, đến đoạn lô cao su (không xác định được vị trí) nhóm của P ném bỏ tất cả hung khí đem theo vào trong lô cao su. Còn N được gia đình đưa đi cấp cứu và điều trị tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Bình Dương đến ngày 03/12/2015 thì xuất viện.
Tại Giấy chứng nhận thương tích số 201000000440/CN-BVĐK ngày 03/12/2015 của Bệnh viện đa khoa tỉnh Bình Dương thể hiện thương tích của Lê Nguyễn Minh N khi vào viện: Vết thương bàn tay (T) lộ đứt gân, xương gãy, hạn chế vận động các ngón tay (T).
Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 338/2015/GĐPY ngày 23/12/2015 của Trung tâm pháp y – Sở y tế tỉnh Bình Dương kết luận: Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên đối với Lê Nguyễn Minh N hiện tại là 15%.
Đối với hành vi phạm tội của Nguyễn Đăng Ba P, Nguyễn Huỳnh A, Nguyễn Thanh H, Phạm L, Lê Trương Q đã được Tòa án nhân dân huyện I, tỉnh Bình Dương xét xử theo Bản án số 44/2017/HS-ST ngày 24/8/2017 về tội Cố ý gây thương tích, được quy định tại khoản 2 Điều 104 Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009).
Tại Bản án Hình sự sơ thẩm số 08/2019/HS-ST ngày 09/4/2019 của Toà án nhân dân huyện I, tỉnh Bình Dương đã quyết định:
Tuyên bố bị cáo Trần Chí M phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Áp dụng khoản 2 Điều 134; Điều 17; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Xử phạt bị cáo Trần Chí M 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tính từ ngày 03/12/2018.
Bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo theo quy định.
Ngày 10/4/2019, bị cáo Trần Chí M làm đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm: Bị cáo Trần Chí M kháng cáo kêu oan, cho rằng bị cáo không phạm tội cố ý gây thương tích.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa trình bày quan điểm giải quyết vụ án: Xác định tội danh, điều luật mà Tòa án cấp sơ thẩm xét xử và áp dụng đối với bị cáo Trần Chí M là có căn cứ, đúng người, đúng tội. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo kháng cáo kêu oan. Tuy nhiên, căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có tại hồ sơ vụ án, có đủ căn cứ xác định bị cáo là đồng phạm tội cố ý gây thương tích. Do đó đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Chí M, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Đơn kháng cáo của bị cáo Trần Chí M được thực hiện trong thời hạn luật định nên đủ điều kiện để Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương giải quyết vụ án theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Trần Chí M cho rằng bị cáo không thực hiện hành vi phạm tội cố ý gây thương tích. Tuy nhiên, căn cứ vào các tài liệu có tại hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở xác định:
Khoảng 20 giờ ngày 23/11/2015, theo lời phát động của Nguyễn Đăng Ba P, bị cáo M cầm một cây tầm vông dài khoảng 1,5m, đi cùng với Nguyễn Đăng Ba P, Nguyễn Huỳnh A, Phạm L, Lê Trương Q, Nguyễn Thanh H đi tìm đánh Võ Quốc B. Khi đi đến khu vực làng 5 thuộc ấp ĐP, xã ĐH, huyện I thì thấy nhà ông Lê Nguyễn Minh N đang tổ chức tiệc sinh nhật. Lúc này, Nguyễn Huỳnh A theo lời của Nguyễn Đăng Ba P hướng dẫn đã chém nhầm người là Lê Nguyễn Minh N. Nguyễn Huỳnh A dùng dao chặt củi dài khoảng 60cm chém vào bàn tay trái của N, hậu quả gây thương tích cho N với tỷ lệ 15%. Bị cáo Trần Chí M tuy không trực tiếp thực hiện tội phạm nhưng bị cáo đã cầm 1 cây tầm vông dài khoảng 1,5m đồng ý cùng P, Anh, Hiệp, L, Q đi tìm đánh người. Đồng thời, theo lời khai của Nguyễn Huỳnh A (bút lục số 50) thì Huỳnh A được bị cáo Trần Chí M đưa cho một con dao (loại dao cắt chuối). Như vậy, bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với vai trò đồng phạm giúp sức.
Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo M về tội “Cố ý gây thương tích” theo khoản 2 Điều 134; Điều 17 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[3] Hành vi của bị cáo M là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến sức khỏe của bị hại, ảnh hưởng đến tình hình trật tự trị an tại địa phương, gây tâm lý hoang mang cho người dân sinh sống tại khu vực. Bị cáo có đầy đủ năng lực hành vi. Về nhận thức, bị cáo biết được sức khỏe của con người được pháp luật bảo vệ nhưng khi nghe P rủ đi chém người khác, bị cáo M không ngăn cản mà còn cùng tham gia.
[4] Bị cáo Trần Chí M kháng cáo kêu oan nhưng không có căn cứ. Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo.
[5] Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương đề nghị không chấp nhận kháng cáo của bị cáo là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[6] Các phần khác của quyết định án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[7] Án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Trần Chí M phải chịu.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015,
1. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Chí M. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 08/2019/HS-ST ngày 09/4/2019 của Toà án nhân dân huyện I, tỉnh Bình Dương.
Áp dụng khoản 2 Điều 134; Điều 17; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017),
Xử phạt bị cáo Trần Chí M 02 (hai) năm (06) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 03/12/2018.
2. Án phí hình sự phúc thẩm:
Áp dụng khoản 2 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Trần Chí M phải nộp 200.000 (hai trăm ngàn) đồng.
3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Bình Dương; - TAND huyện I; - VKSND huyện I ; - Chi cục THADS huyện I ; - Phòng PV06 - Công an tỉnh Bình Dương; - Công an huyện I ; - Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương; - Bị cáo; - Tổ Hành chính Tư pháp; - Lưu: HSVA, Tòa HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ (đã ký) Bùi Ngọc Thạch |