vanban.org

Bản án 111/2019/HS-PT — Hình sự

TAND cấp cao tại Đà Nẵng Tuyên án 11/04/2019 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 11/04/2019 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Mai Chấn D, kháng cáo của

người bị hại và người đại diện hợp pháp của người bị hại, giữ nguyên bản án sơ thẩm. Bộ luật Hình sự. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Mai Chấn D - phạm tội giết người (điều 123 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Mai Chấn D, kháng cáo của
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 123 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
TẠI ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 111/2019/HS-PT
Ngày: 11 - 4 - 2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Thanh Liêm

Các thẩm phán:

Ông Nguyễn Cường

Ông Phạm Tồn

- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Ngọc Đức, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao

tại Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng tham gia phiên

tòa: Ông Nguyễn Xuân Thanh, Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 4 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai, xét

xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 85/2019/TLPT-HS ngày 10 tháng 01 năm

2019 đối với bị cáo Mai Chấn D về tội “Giết người”. Do có kháng cáo của bị

cáo, người bị hại, người đại diện hợp pháp của người bị hại, đối với bản án

hình sự sơ thẩm số 73/2018/HS-ST ngày 13/11/2018 của Tòa án nhân dân tỉnh

Gia Lai.

- Bị cáo có kháng cáo, bị kháng cáo:

Mai Chấn D, Sinh ngày: 29/10/1997, tại huyện C1, tỉnh Gia Lai; nơi

ĐKHKTT và chỗ ở: Tổ 13, thị trấn C1, huyện C1, tỉnh Gia Lai; nghề nghiệp:

Làm nông; trình độ văn hóa 4/12; con ông D2 và bà D3; tiền án, tiền sự: Không;

bị bắt giam ngày 12/01/2018; có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo theo yêu cầu của Tòa án: Luật sư Hoàng

Ngọc X1 - Đoàn luật sư tỉnh Gia Lai; có mặt.

- Những người tham gia tố tụng khác có kháng cáo:

+ Người bị hại:

1. anh A, sinh năm 1987; trú tại: Thôn T2, thị trấn C1, huyện C1, tỉnh Gia

Lai.; có mặt.

2. Người đại diện hợp pháp của người bị hại C (chết): Ông C3, sinh năm

1958 và bà C4, sinh năm 1960 (là cha mẹ của anh C); Trú tại: Thôn H2, xã C5, huyện C1, tỉnh Gia Lai; có mặt.

Ngoài ra, trong vụ án còn có 04 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan

không có kháng cáo và không bị kháng cáo, kháng nghị Tòa án cấp phúc thẩm không triệu tập tham gia phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung

vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 16h30’ ngày 11/01/2018, anh A cùng C, Đ, E, F, G, L, M, cùng

trú tại thị trấn C1, huyện C1, tinh Gia Lai đến quán X tại Thôn T1, thị trấn C1, huyện C1 để hát Karaoke và được bố trí vào phòng số 204 để hát. Nhóm của anh A có gọi khoảng 15 tiếp viên nữ đến quán để phục vụ rót bia và tham gia hát cùng, trong đó có chị N (sinh năm: 1993, trú tại xã D1, huyện C2, Đắk Lắk), V (V1) và chị H cùng trú tại tỉnh Đắk Lắk là tiếp viên phục vụ. Đến khoảng 18hl5’ cùng ngày chị N và chị H xin về trước và ra khỏi phòng gọi điện thoại cho anh S và anh T đến đón. Khi chị N đến quầy lễ tân đứng đợi thì M đi xuống và cho rằng chị N không phục vụ mà bỏ về nên đã dùng tay, chân đánh chị N, làm chị N ngã xuống nền nhà và nói: “Mày là lính B (sắt) phải không, kêu B (sắt) lên đây nói chuyện với tao”. Chị N bỏ chạy ra khỏi quán thì gặp các anh S, T và B đi xe máy đến và nói là mới bị M đánh. Nghe vậy, S, T, B đi vào trong quán gặp anh M để nói chuyện, còn chị N đi ra ngoài đường CM gọi điện thoại cho chị K (là bạn) đến đón về. Khi nói chuyện qua điện thoại, chị N có nói với chị K là mình bị đánh tại quán X và anh B (B sắt) bị mấy người khách gây chuyện. Lúc này, tại phòng trọ của chị K có Mai Chấn D đến chơi, khi nghe chị K nói B bị người khác đòi đánh thì D liền điều khiển xe máy Jupiter BKS 81F9-8619 đến quán X. Theo lời khai của Mai Chấn D: Khi đến đoạn ngã rẽ từ đường CM vào quán X thì D phát hiện một con dao Thái Lan, D cúi người xuống nhặt lấy để tại gác xe rồi tiếp tục chạy đến trước cửa quán, D dừng xe cách cửa quán khoảng 10m rồi đi bộ lại chỗ B và nhóm của anh A đang cãi nhau. Lúc này, anh M đi lại chỉ tay về phía B khiêu khích thì bị B cầm bình xịt hơi cay (loại nhỏ) xịt vào mặt nên lùi lại và đi vào phòng khách. A thấy nhóm B có người cầm mã tấu đi đến, nên cúi xuống nhặt 02 viên gạch và nói: “Chơi nó đi” thì B tiếp tục xịt hơi cay và bỏ chạy. C, E, G, L đuổi đánh và ném gạch đá về nhóm của B chạy ra ngoài đường CM. Thấy A đang đứng, Mai Chấn D liền rút dao trong túi áo ra cầm tay phải chạy đến đâm một nhát trúng vào vùng ngực phía trước của anh A, rồi rút dao ra và tiếp tục đuổi theo đâm tiếp một nhát trúng vào ngực anh C làm dao Thái lan bị gãy, D cầm và chạy ra đường CM và vứt dao lại bên lề đường bỏ trốn.

Anh C, anh A được mọi người đưa đến Trung tâm y tế huyện C1 cấp cứu

và đồng thời chuyển Bệnh viện Đại học y dược Y để cấp cứu. Đến khoảng

20h30’ ngày 11/01/2018 thì anh C chết, còn anh A bị thương điều trị đến ngày

20/01/2018 thì xuất viện.

Đến 8h ngày 12/01/2018, Mai Chấn D đến trụ sở Công an huyện C1 đầu

thú khai nhận hành vi phạm tội.

Tại Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 16/TT-TTPY ngày

28/5/2018 của Trung tâm pháp y tỉnh Gia Lai kết luận nguyên nhân chết của anh

C là do: “Mất máu cấp/vết thương thấu ngực thủng quai động mạch chủ do vật

sắc nhọn”.

Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 86/18/TgT ngày

12/7/2018 của Phân viện pháp y quốc gia tại thành phố Hồ Chí Minh kết luận

thương tích của anh A là 33% (ba mươi ba phần trăm).

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 73/2018/HS-ST Ngày 13/11/2018, Tòa án

nhân dân tỉnh Gia Lai đã quyết định:

Căn cứ vào a, n khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51;

Điều 39 Bộ luật Hình sự 2015;

Tuyên bố bị cáo Mai Chấn D phạm tội “Giết người”

Xử phạt Mai Chấn D tù chung thân. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính

từ ngày 12/01/2018.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về phần trách nhiệm dân sự, xử

lý vật chứng, trách nhiệm thi hành án dân sự, án phí và quyền kháng cáo.

- Ngày 03-12-2018, bị cáo Mai Chấn D có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ

hình phạt.

- Ngày 14-12-2018, ông C3 là người đại diện hợp pháp của người bị hại C

và người bị hại anh A kháng cáo tăng hình phạt đối với bị cáo Mai Chấn D từ

Chung thân lên Tử hình.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Mai Chấn D; người bị hại anh A; người

đại diện hợp pháp của người bị hại ông C3 đều giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.

Bị cáo Mai Chấn D cho rằng Tòa án cấp sơ thẩm xử mức án quá nghiêm khắc

nên xin giảm nhẹ hình phạt; người bị hại anh A và người đại diện hợp pháp của

người bị hại ông C3 đều yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xử mức án Tử hình đối

với bị cáo Mai Chấn D.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng đề nghị Hội đồng

xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Mai Chấn D, kháng cáo của người

bị hại anh A, kháng cáo của người đại diện hợp pháp của người bị hại ông C3 và giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Lời bào chữa của luật sư cho bị cáo Mai Chấn D nhất trí về phần tội danh

và các tình tiết định khung hình phạt mà Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng để xét xử đối với bị cáo D. Luật sư cho rằng Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo Mai Chấn D mức án quá nghiêm khắc nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo Mai Chấn D giảm cho bị cáo một phần hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã

được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Bị cáo Mai Chấn D khai nhận: Anh C chết vào đêm ngày 11-01-2018

và anh A bị thương tích với tỷ lệ 33% là do chính bị cáo Mai Chấn D dùng dao Thái Lan đâm vào người anh C và anh A gây ra. Đối chiếu thấy phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập có tại hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Hành vi nêu trên của bị cáo Mai Chấn D đã bị Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử về tội “Giết người” theo điểm a, n khoản 1 Điều 123 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

. Bản án sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất đặc biệt nghiêm trọng của

vụ án, mức độ phạm tội, đồng thời xem xét các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo Mai Chấn D như: Sau khi phạm tội ra đầu thú; thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, đã tác động gia đình bồi thường cho gia đình người bị hại khắc phục một phần hậu quả và xử phạt bị cáo Mai Chấn D với mức án tù Chung thân là tương xứng với hành vi và hậu quả do bị cáo gây ra. Tại phiên tòa phúc thẩm không có tình tiết giảm nhẹ nào mới nên không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Mai Chấn D cũng như lời bào chữa của luật sư cho bị cáo D; không chấp nhận kháng cáo của người bị hại và của người đại diện hợp pháp của người bị hại, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

. Do yêu cầu kháng cáo không được chấp nhận nên bị cáo Mai Chấn D

phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

. Những phần quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo,

kháng nghị nên không xét.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự.

1. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Mai Chấn D, kháng cáo của

người bị hại và người đại diện hợp pháp của người bị hại, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Áp dụng điểm a, n khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51

Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Mai Chấn D tù Chung thân về tội “Giết người”. Thời gian

chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 12-01-2018.

2. Về án phí: Bị cáo Mai Chấn D phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn

đồng) án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm về phần trách nhiệm dân sự,

xử lý vật chứng, án phí không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật

kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Cỡ chữ