- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "chị H, anh K ly hôn"
- Tòa quyết gì? Quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Phan Thị H được ly hôn anh Nguyễn Văn K.
- Căn cứ chính? Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình xử; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TAND HUYỆN LN TỈNH BẮC GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 111/2019/HNGĐ-ST Ngày 07-10-2019 V/v ly hôn giữa chị H và anh K |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Quỳnh Hoa
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Từ Minh Hải
Ông Nguyễn Tiến Chỉnh
- Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Công Định- Thư ký Tòa án nhân dân huyện LN.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện LN, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Bà Ngô Thị Thắm - K sát viên.
Trong ngày 07 tháng 10 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện LN tiến hành mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình sơ thẩm thụ lý số: 370/2019/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 7 năm 2019 về “Tranh chấp hôn nhân gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 99/2019/QĐXXST-DS ngày 03 tháng 9 năm 2019; Quyết định hoãn phiên tòa số 86/2019/QĐST-DS ngày 18 tháng 9 năm 2019 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Phan Thị H, sinh năm 1988 ( vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn TH, xã E, huyện K1, tỉnh Đắc Lắk.
- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn K, sinh năm 1982 ( vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn C1, xã TH1, huyện LN, tỉnh Bắc Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn xin ly hôn ghi ngày 01/7/2019 cùng các lời khai nguyên đơn chị Phan Thị H trình bày như sau: Chị kết hôn với anh Nguyễn Văn K ngày 17/11/2008 . Trước khi cưới hai bên có tự do tìm hiểu thỏa thuận và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T3, thành phố Hà Tĩnh. Cưới xong vợ chồng về chung sống với nhau ngay, thời gian đầu tình cảm vợ chồng hòa thuận, hạnh phúc. Vợ chồng chung sống đến năm 2010 thì xảy ra mâu thuẫn nguyên nhân mâu thuẫn do tính tình vợ chồng không hợp nhau và do anh K có biểu hiện ngoại tình với người phụ nữ khác, chị có khuyên bảo nhiều lần nhưng anh K không nghe, anh K không quan tâm đến gia đình con cái nên vợ chồng thường xuyên bất đồng trong quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung. Đến năm 2010 vợ chồng chị sống ly thân cắt đứt mọi quan hệ tình cảm, kinh tế từ đó. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được chị tha thiết đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Văn K.
- Về con chung: Chị Phan Thị H và anh Nguyễn Văn K có một con chung là Nguyễn Trung K5, sinh ngày 26/6/2009 hiện cháu khỏe mạnh phát triển bình thường và đang ở cùng chị H, nếu vợ chồng ly hôn chị xin nuôi con chung và không yêu cầu anh K góp cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản, công nợ, ruộng canh tác: Chị Phan Thị H không đề nghị Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa hôm chị Phan Thị H có đơn xin xét xử vắng mặt.
Bị đơn anh Nguyễn Văn K đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật, tuy nhiên anh Nguyễn Văn K đã từ chối không cung cấp lời khai cho Tòa án theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa hôm nay anh Nguyễn Văn K vắng mặt lần hai không có lý do.
Đại diện Viện K sát nhân dân huyện LN tham gia phiên tòa xét xử sơ thẩm, phát biểu ý kiến: Quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án đến trước khi mở phiên tòa Thẩm phán và Thư ký Tòa án tuân theo đúng trình tự tố tụng. Tại phiên Tòa Hội đồng xét xử sơ thẩm thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về phía các đương sự chị H, chấp hành nghiêm chỉnh, thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình. Tại phiên tòa hôm nay chị Phan Thị H có đơn xin xét xử vắng mặt. Anh Nguyễn Văn K không chấp hành quy định của pháp luật, từ chối khai báo, tại phiên tòa hôm nay anh Nguyễn Văn K vắng mặt lần hai không có lý do. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 51, 56, 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình, các Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 272, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Phan Thị H được ly hôn anh Nguyễn Văn K.
- Về con chung: Giao cho chị Phan Thị H nuôi con chung là Nguyễn Trung K5 sinh ngày 26/6/2009 vấn đề cấp dưỡng nuôi con không đặt ra xem xét giải quyết. Sau khi ly hôn anh Nguyễn Văn K được quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con, mà không ai được cản trở.
- Về tài sản, công nợ, ruộng canh tác: Các đương sự không đề nghị Tòa án giải quyết.
Ngoài ra đại diện Viện K sát còn đề xuất giải quyết án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra chứng cứ tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Nguyên đơn chị Phan Thị H có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn anh Nguyễn Văn K vắng mặt lần hai không có lý do nên Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 227, Điều 228, Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt các đương sự theo thủ tục chung.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Phan Thị H kết hôn với anh Nguyễn Văn K 17/11/2008 trên cơ sở tự nguyện hợp pháp anh chị có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T3, thành phố Hà Tĩnh. Cưới xong vợ chồng về chung sống với nhau ngay, thời gian đầu tình cảm vợ chồng hòa thuận, hạnh phúc. Vợ chồng chung sống đến năm 2010 thì xảy ra mâu thuẫn nguyên nhân mâu thuẫn do tính tình vợ chồng không hợp nhau và do chị nghi ngờ anh K có biểu hiện ngoại tình với người phụ nữ khác, chị có khuyên bảo nhiều lần nhưng anh K không nghe, anh K không quan tâm đến gia đình con cái nên vợ chồng thường xuyên bất đồng trong quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung. Đến năm 2010 vợ chồng chị sống ly thân cắt đứt mọi quan hệ tình cảm, kinh tế từ đó. Qua kết quả xác minh và lời khai của người làm chứng có trong hồ sơ vụ án xét thấy mâu thuẫn tình cảm vợ chồng giữa chị H, anh K đã trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Nên căn cứ Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình xử cho chị Phan Thị H được ly hôn với anh Nguyễn Văn K.
Về con chung: Chị Phan Thị H và anh Nguyễn Văn K có một con chung là Nguyễn Trung K5, sinh ngày 26/6/2009. Hiện các cháu khỏe mạnh phát triển bình thường và đang ở cùng với chị H. Quá trình giải quyết vụ án phía chị H có nguyện vọng được nuôi con, xét nguyện vọng nuôi con của chị H là nguyện vọng chính đáng, và chị H có đủ điều kiện để nuôi con, để tránh sáo trộn cuộc sống hiện nay của con nên cần giao con cho chị Phan Thị H tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình. Vấn đề góp cấp dưỡng nuôi con do các đương sự không yêu cầu nên HĐXX không đặt ra xem xét giải quyết. Sau khi ly hôn anh Nguyễn Văn K có quyền thăm nom con, chăm sóc, giáo dục con theo quy định tại Điều 82, Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình.
Về tài sản, công nợ, ruộng canh tác: Các đương sự không đề nghị Tòa án giải quyết, nên HĐXX không đặt ra xem xét giải quyết.
Về án phí: Căn cứ Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 24, Điều 26, khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm,thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Chị Phan Thị H phải chịu 300.000 đồng tiền án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000đ chị đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai số AA/2017/0004136 ngày 08/7/2019 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện LN, tỉnh Bắc Giang.
Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 271, Điều 272, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự. Chị Phan Thị H và anh Nguyễn Văn K được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 51, 56, 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình; Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 272, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 24, Điều 26, khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1.Quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Phan Thị H được ly hôn anh Nguyễn Văn K.
2. Về Con chung: Giao cho chị Phan Thị H nuôi con chung là Nguyễn Trung K5 sinh ngày 26/6/2009 vấn đề cấp dưỡng nuôi con không đặt ra xem xét giải quyết. Sau khi ly hôn anh Nguyễn Văn K được quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con, mà không ai được cản trở.
3. Về án phí: Chị Phan Thị H phải chịu 300.000đ tiền án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000đ chị đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai số AA/2017/0004136 ngày 08/7/2019 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện LN, tỉnh Bắc Giang.
4. Về quyền kháng cáo: Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt hoặc niêm yết bản án./ Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND tỉnh Bắc Giang;
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND tỉnh Bắc Giang;
- VKSND huyện LN;
- Chi cục THADS huyện LN;
- Các đương sự;
- UBND xã T3, tỉnh Hà Tĩnh;
Đỗ Thị Quỳnh Hoa
- Lưu hồ sơ, VP.
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Đỗ Thị Quỳnh Hoa
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bắc Giang; - VKSND tỉnh Bắc Giang; - VKSND huyện LN; - Chi cục THADS huyện LN; - Các đương sự; - UBND xã Tam Dị; - Lưu hồ sơ, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Thị Quỳnh Hoa |