vanban.org

Bản án 111/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thùy D và anh Lê Mạnh C.

Về con chung: Giao con chung Lê Hoàng Gia B, sinh ngày 14 tháng 02 năm 2016 cho chị Nguyễn Thùy D trực tiếp nuôi dưỡng. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con cho anh Lê Mạnh C. Anh Lê Mạnh C có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Nếu anh C lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Nguyễn Thùy D yêu cầu ly hôn anh Lê Mạnh C"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thùy D và anh Lê Mạnh C.
  • Căn cứ chính? Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN NGHI LỘC
TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 111/2018/HNGĐ-ST
Ngày: 20-6-2018
V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
khi li hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHI LỘC, TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Cao Khắc Chiến

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Văn Cương và ông Lê Quốc Việt

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoài - Thư ký Toà án nhân dân huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Thái Phượng - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 6 năm 2018, tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 08/2018/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 01 năm 2018 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 24/2018/QĐXXST - HNGĐ ngày 10 tháng 5 năm 2018 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thùy D, sinh năm 1993; nơi cư trú: tổ 38A, khu 3, ngõ 2 LC, phường GC, thành phố VT, tỉnh Phú Thọ. Vắng mặt.

2. Bị đơn: Anh Lê Mạnh C, sinh năm 1989; nơi cư trú: xóm 01, xã NV, huyện NL, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại Đơn khởi kiện đề ngày 15 tháng 01 năm 2018, quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Thùy D trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thùy D và anh Lê Mạnh C lấy nhau có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 73/2015 quyển số 01/2015 ngày 14 tháng 9 năm 2015 của Ủy ban nhân dân xã NV, huyện NL, tỉnh Nghệ An, hôn nhân hoàn toàn tự nguyện. Sau ngày kết hôn, chị D và anh C chung sống với nhau chỉ được 4 tháng thì xẩy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân do anh C chơi bời, phá phách, không lo làm ăn bên cạnh đó anh C cũng không quan tâm gì đến chị D, kinh tế gia đình khó khăn không có tiền nuôi con nên dẫn đến vợ chồng chị D, anh C thường xuyên xẩy ra mâu thuẫn, xúc phạm lẫn nhau. Do không thể chung sống với nhau được nữa nên chị D đã về quê ngoại sinh sống, hai vợ chồng đã ly thân được gần 01 năm. Nay, chị D không còn tình cảm với anh C nên yêu cầu được ly hôn.

Về con chung: Chị Nguyễn Thùy D và anh Lê Mạnh C có một con chung là Lê Hoàng Gia B, sinh ngày 14 tháng 02 năm 2016. Hiện nay cháu B đang ở với chị D. Nếu ly hôn, chị D có nguyện vọng được trực tiếp nuôi cháu B. Chị D không yêu cầu anh C cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị Nguyễn Thùy D không yêu cầu Toà án giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng cho anh Lê Mạnh C. Tuy nhiên, anh C vẫn cố tình vắng mặt.

Tòa án đã xác minh tại xóm trưởng xóm 01 và cán bộ tư pháp xã NV, huyện NL, tỉnh Nghệ An về nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn giữa chị Nguyễn Thùy D và anh Lê Mạnh C. Kết quả phản ánh: Sau khi cưới nhau vợ chồng chị D, anh C về chung sống với bố mẹ anh C tại xóm 01, xã NV, huyện NL, tỉnh Nghệ An. Tình trạng hôn nhân của vợ chồng xóm và xã không biết rõ. Tuy nhiên, gần một năm nay chỉ thấy mình anh C sống cùng với bố mẹ anh C, không thấy mẹ con chị D về sống chung cùng anh C.

Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà phát biểu ý kiến:

- Ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng và đầy đủ các quy định của pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án.

- Ý kiến về việc giải quyết vụ án:

Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình. Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn là cho chị Nguyễn Thùy D ly hôn anh Lê Mạnh C. Giao con chung là Lê Hoàng Gia B, sinh ngày 14 tháng 02 năm 2016 cho chị D trực tiếp nuôi; tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con cho anh C. Về tài sản chung, nợ chung: chị D, anh C không yêu cầu Tòa án giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên toà và căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Toà án nhân dân huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An nhận định:

Về tố tụng:

Nguyên đơn yêu cầu Toà án giải quyết về việc ly hôn, nuôi con khi ly hôn, bị đơn cư trú tại xóm 01, xã NV, huyện NL, tỉnh Nghệ An. Theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, Toà án nhân dân huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An giải quyết là đúng thẩm quyền.

Bị đơn anh Lê Mạnh C đã được Tòa án tống đạt Thông báo thụ lý vụ án, Giấy triệu tập, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự nhưng đều cố tình vắng mặt. Nguyên đơn chị Nguyễn Thùy D có đơn đề nghị không tiến hành hòa giải và xin xét xử vắng mặt. Căn cứ vào Điều 207, khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án không tiến hành hòa giải được và Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt chị D và anh C.

Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân:

Hôn nhân giữa chị Nguyễn Thùy D và anh Lê Mạnh C là hôn nhân hợp pháp, không vi phạm các quy định về điều kiện kết hôn tại Điều 8, Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình.

Căn cứ vào lời khai của nguyên đơn và kết quả xác minh về tình trạng hôn nhân giữa chị Nguyễn Thùy D và anh Lê Mạnh C, có cơ sở khẳng định: chị D và anh C không còn tình cảm với nhau, không quan tâm, bỏ mặc nhau gần một năm nay. Xét thấy, mâu thuẫn giữa chị D và anh C đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung của vợ chồng không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, có căn cứ cho chị D được ly hôn anh C theo quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Chị Nguyễn Thùy D có nguyện vọng được trực tiếp nuôi cháu Lê Hoàng Gia B, sinh ngày 14 tháng 02 năm 2016 và không yêu cầu anh C cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy, cháu B còn nhỏ, dưới 36 tháng tuổi, chị D đủ điều kiện trực tiếp nuôi con và hiện nay đang trực tiếp nuôi con. Căn cứ vào khoản 3 Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình, cần chấp nhận giao cháu B cho chị D trực tiếp nuôi dưỡng. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con cho anh C.

Anh Lê Mạnh C có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Nếu anh C lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì chị Nguyễn Thùy D có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của anh C được quy định tại Điều 82 của Luật Hôn nhân và gia đình.

Về tài sản chung, nợ chung: chị Nguyễn Thùy D không yêu cầu Toà án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: chị Nguyễn Thùy D phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng Dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thùy D và anh Lê Mạnh C.

2. Về con chung: Giao con chung Lê Hoàng Gia B, sinh ngày 14 tháng 02 năm 2016 cho chị Nguyễn Thùy D trực tiếp nuôi dưỡng. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con cho anh Lê Mạnh C.

Anh Lê Mạnh C có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Nếu anh C lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục con chung thì chị Nguyễn Thùy D có quyền yêu cầu Toà án hạn chế quyền thăm nom con chung của anh C.

3. Về chia tài sản: không xem xét giải quyết.

4. Về án phí: chị Nguyễn Thùy D phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ nhưng được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng chị D đã nộp theo Biên lai số 0006073 ngày 17 tháng 01 năm 2018 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An.

5. Nguyên đơn, Bị đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ