- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Văn L - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Căn cứ chính? Nghị quyết số 41/2017/QH14 Về việc thi hành Bộ luật Hình sự…; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 194 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH TỈNH THÁI BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 111/2017/HSST Ngày 20 - 7 - 2017 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Vũ Việt Hưng.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Hoàng Thị Phụng.
Ông Phạm Đức Toàn.
- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Phương Thảo - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Thái Bình.
- Đại diê ̣n Viê ̣n kiểm sá t nhân dân thành phố Thá i Binh tham gia phiên tòa:
̀ Ông Vũ Xuân Đông - Kiểm sát viên.
Hôm nay, ngày 20 tháng 7 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình, Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số : 106/2017/HSST ngày 04 tháng 7 năm 2017 theo Quyết đi ̣nh đưa vu ̣ án ra xét xử sô: 116/2017́
/QĐXX-ST ngày 06 tháng 7 năm 2017, đối vớ i bi ̣ cáo:
̀
Họ và tên: TRÂN VĂN L, sinh ngày 28/8/1978.
Hộ khẩu thường trú: Phườ ng B, thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình.
Nơi cư trú trướ c khi bi ̣ bắt: Phườ ng T, thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình.
Nghề nghiê ̣p: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 10/12.
Quốc ti ̣ch: Viê ̣t Nam;
Dân tô ̣c: Kinh.
Con ông: Trần Hoài S (đa chết); Con bà: Bùi Thị H, sinh năm 1947; Gia đĩ
nh
̀ có 03 chị em, bị cáo là con thứ ba . Vợ: Lê Thi ̣ D, sinh năm 1986 (đa ly hôn ). Coñ lớn sinh năm 2012, con nhỏ sinh năm 2016.
* Tiền á n, tiền sự: Không.
* Nhân thân: - Quyết đi ̣nh số 787/QĐ-UBND ngày 02/4/2010 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Thái Bình áp dụng biện pháp đưa vào Trung tâm Chữa bê ̣nh – Giáo dục – Lao đô ̣ng xa hô ̣̃ i thành phố Thái Bình thờ i ha ̣n 12 tháng, kể từ ngày 05/4/2010 đến ngày 05/4/2011 do nghiê ̣n ma túy.
- Án số 100/HSST ngày 24/3/2000 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xử
phạt 03 năm tù về tô ̣i Mua bán trái phép chất ma túy
, bị cáo phải nộp phạt 20.000.000 đồng. Ngày 21/8/2000, Cục thi hành án dân sự tỉnh Đồng Nai đã ra Quyết đi ̣nh ủy thác số 148/UT.THA cho Đô ̣i thi hành án dân sự thi ̣ xa Thái Bình̃ (nay là Chi cu ̣c thi hành án dân sự thành phố Thái Bình ) thi hành số tiền phạt 20.000.000 đồng và án phi hinh sự sơ thẩm 50.000 đồng. Qua xác minh ta ̣i Cu ̣c thi
́ ̀ hành án dân sự tỉnh Thái Bình và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thái Bình không nhâ ̣n được quyết đi ̣nh ủy thác trên, do đó bị cáo được hưởng tình tiết có lợi.
- Án số 56/HSST ngày 24/02/2003 của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa , tỉnh Đồng Nai xử pha ̣t 20 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản; Buộc bị cáo phải hoàn trả cho người bị hại (anh Nguyễn Thanh L) số tiền 65.000đ. Bị cáo chấp hành xong án phi
́ ngày 25/8/2003; Về phần hoàn trả số tiền 65.000đ, do người bị hại (anh Nguyễn Thanh L) không yêu cầu nên Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thái Bình không thụ lý bồi thường, do đó bị cáo được hưởng tình tiết có lợi theo quy định của pháp luật.
- Án số 25/HSST ngày 26/01/2005 của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xử pha ̣t 28 tháng tù về tô ̣i Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có. Buộc bị cáo nộp sung công quỹ Nhà nước 500.000 đồng do thu lợi bất chinh mà
́ có. Qua xác minh số tiền sung công đa nô ̣̃ p tổng cô ̣ng làm 3 lần là 200.000 đồng vào các ngày 03/01/2014, ngày 25/01/2014, ngày 19/3/2014. Phần án phi của bản án và
́ số tiền sung công còn la ̣i đa đượ̃
c Tòa án xét miễn theo Quyết đi ̣nh số 37/MG ngày 27/3/2014 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình.
- Án số 15/2012/HSST ngày 10/02/2012 của Tòa án nhân dân huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước xử phạt 36 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Chấp hành xong án phi
́ ngày 27/4/2012.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 03/4/2017 đến ngày 06/4/2017 chuyển ta ̣m giam cho đến nay. Hiê ̣n bi ̣ cáo đang bi ̣ ta ̣m giam ta ̣i Nhà tạm giữ Công an thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Người làm chứ ng:
- Anh Nguyễn Đinh T , sinh năm 1977; Trú tại thôn A, xã B, thành phố Thái
̀ Bình, tỉnh Thái Bình (Vắ ng mặt)
- Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1974; Trú tại thôn C, xã D, thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình (Vắ ng mặt)
NỘI DUNG VỤ Á N:
Theo các tài liê ̣u có trong hồ sơ vu ̣ án và diễn biến ta ̣i phiên tòa , nô ̣i dung vu ̣ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 08 giờ 00 phút ngày 03/4/2017. Trần Văn L đi bô ̣ ra khu vực gần nhà tại phườ ng T, thành phố Thái Bình mục đích mua ma túy để sử dụng cho bản thân. Tại đây, L gă ̣p và mua của mô ̣t ngườ i nam giớ i khoảng 40 tuổi không quen biết 01 túi ma túy đá với giá 250.000 đồng. Sau đó L cầm gói ma túy vừ a mua được đi tim chỗ để sử
̀ dụng. Đến khoảng 08 giờ 30 phút cùng ngày, khi L đến khu vực đườ ng X, phườ ng T, thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình thì tổ công tác của Phòng cảnh sát cơ động Công an tinh Thả
́i Binh phát hiê ̣n L có biểu hiện nghi vấn về ma túy nên yêu cầu L dừ ng la ̣i
̀ để kiểm tra. Trướ c sự chứ ng kiến của những ngườ i làm chứ ng là anh Nguyễn Đinh T,
̀ sinh năm 1977; Trú tại thôn A, xã B, thành phố Thái Bình , tỉnh Thái Bình và anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1974; Trú tại thôn C, xã D, thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình, L tự giác đưa từ lòng bàn tay phải ra giao nô ̣p cho tổ công tác 01 túi nilon màu trắng, bên trong có chứ a chất tinh thể màu trắng. L khai nhâ ̣n đó là ma túy đá mua về để sử dụng. L tiếp tu ̣c lấy từ túi quần bên phải ra giao nô ̣p cho tổ công tác 01 điê ̣n thoại di động nhãn hiệu Q-mobile, màu trắng. Ngoài ra Cơ quan công an không quản lý đồ vật, tài sản gì khác . Tổ công tác yêu cầu L và mời người làm chứng về trụ sở Phòng cảnh sát cơ động Công an tỉnh Thái Bình để lập biên bản bắt giữ người phạm tô ̣i quả tang và niêm phong vâ ̣t chứ ng. Sau đó chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra công an thành phố Thái Binh giải quyết theo thẩm quyền.
̀
Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra công an thành phố Thái Binh ra Lê ̣nh
̀ khám xét khẩn cấp chỗ ở củ a Trần Văn L tại phườ ng T, thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình. Qua khám xét không phát hiê ̣n và thu giữ gi.
̀
Bản kết luận giám định số 107/KLGĐ-PC54 ngày 03/4/2017 của Phòng kỹ thuâ ̣t hinh s ự Công an tỉnh Thái Bình kết luận : “Mẫu gử i giám đi ̣nh thu của Trần
̀ Văn L là ma túy, loại Methamphetamine, có trọng lượng 1,4398 gam (Một phẩy bốn nghìn ba trăm chín mươi tám gam)”.
Trong quá trinh điều tra, truy tố và ta ̣i phiên tòa hôm nay, Trần Văn L đa khaĩ
̀ nhâ ̣n toàn bô ̣ hành vi pha ̣m tô ̣i của minh.
̀
Bản cáo trạng số 114/KSĐT ngày 03 tháng 7 năm 2017 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Binh truy tố bi ̣ cáo Trần Văn L về tô ̣i “Tàng trữ tr ái phép
̀ chất ma túy” theo khoản 1 Điều 194 Bô ̣ luâ ̣t hinh sự.
̀
Tại phiên tòa , đa ̣i diê ̣n Viê ̣n kiểm sát nhân dân thành phố Thái Binh vẫn giữ
̀ nguyên quan điểm truy tố Trần Văn L về tô ̣i “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Đa ̣i diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình đề nghị Hội đồng xét xử áp du ̣ng khoản 1 Điều 194; điểm p khoản 1 Điều 46; Điều 33 Bộ luật Hình sự năm 1999; Căn cứ vào những chinh sách có lợi cho bi ̣ cáo do thay đổi chinh sách pháp
́
́ luâ ̣t của Nhà nướ c theo Nghị quyết số41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội và khoản 3 Điều 7, điểm x khoản 1 Điều 51; điểm c khoản 1 Điều 249 Bô ̣ luâ ̣t Hinh sự
̀ năm 2015. Đề nghị xử phạt bị cáo mứ c án t ừ 18 tháng đến 24 tháng tù. Thờ i ha ̣n tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ 03/4/2017;
Đề nghi ̣ ti ̣ch thu tiêu hủy toàn bô ̣ số ma túy hoàn trả sau giám đi ̣nh ; trả lại bị cáo 01 điê ̣n thoa ̣i di đô ̣ng nhan hiê ̣̃
u Q-Mobile, màu trắng, đa cũ ̃.
Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Bị cáo đồng ý vớ i quan điểm truy tố của vị đại diện Viện kiểm sát về tô ̣i danh, mứ c hinh pha ̣t, xử lý vâ ̣t chứ ng và không có ý kiến, tranh luâ ̣n gi.
̀
̀
Trướ c khi Hô ̣i đồng x ét xử vào phòng nghị án , bị cáo trình bày lời nói sau
cùng: Bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
̀
NHẬN ĐI ̣NH CỦ A HỘI ĐÔNG XÉ T XỬ :
Trên cơ sở nô ̣i dung vu ̣ án , căn cứ vào các tài liê ̣u trong hồ sơ vu ̣ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luâ ̣n ta ̣i phiên tòa, Hô ̣i đồng xét xử nhâ ̣n thấy như sau:
[1] Về hành vi , quyết đi ̣nh tố tu ̣ng của Cơ quan điều tra Công an thành phố
Thái Bình, Điều tra viên, Viê ̣n kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, Kiểm sát viên trong quá trinh điều tra, truy tố đa thự̃
c hiê ̣n đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy
̀ đi ̣nh của Bô ̣ luâ ̣t tố tu ̣ng hinh sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, không ai
̀ có ý kiến hoặc khiếu na ̣i về hành vi, quyết đi ̣nh của Cơ quan tiến hành tố tu ̣ng, ngườ i tiến hành tố tu ̣ng . Do đó , các hành vi , quyết đi ̣nh tố tu ̣ng của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngườ i tiến hành tố tu ̣ng đa thự̃
c hiê ̣nđúng theo quy định của pháp luật.
[2] Lờ i khai của bi ̣ cáo ta ̣i phiên tòa hôm nay phù hợp vớ i lờ i khai của bi ̣ cáo
tại giai đoạn điều tra , truy tố , phù hợp với các tài liệu , chứ ng cứ như : Biên bản bắt ngườ i pha ̣m tô ̣i quả tang (bút lục số 02 - 05); Biên bả n niêm phong vâ ̣t chứ ng (bút lục số 29); Bản kết luận giám định số 107 ngày 03/4/2017 (bút lục số 32); Bản tự khai và biên bản ghi lờ i khai của những ngườ i làm chứ ng là anh Nguyễn Đình T và anh Nguyễn Văn T (bút lục số 78 - 89); Cùng các tài liệu, chứ ng cứ khác có trong hồ sơ vu ̣ án.
[3] Bị cáo là người trên 18 tuổi, có đầy đủ năng lực nhận thức và điều khiển
hành vi của mình. Hành vi phạm tội của bị cáo Trần Văn L là nguy hiểm cho xã h ội, đa xâm pha ̣̃
m quy đi ̣nh quản lý chất gây nghiê ̣n của Nhà nước. Ma túy là vật cấm lưu hành, không những làm sa sút về sức khỏe trí tuệ con người mà nó còn làm hủy hoại đạo đức nhân cách con người, là tác nhân lan truyền đại dịch HIV/AIDS, là nguồn gốc phát sinh các loại tội phạm khác gây ảnh hưở ng đến trâ ̣t tự trị an.
[4] Bị cáo tuy nhận thức được tác hại của ma túy, nhâ ̣n thứ c được hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, mục đích để sửdụng cho bản thân bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vẫn thực hiê ̣n vớ i lỗi cố ý . Theo bản kết luâ ̣n giám đi ̣nh số 107/KLGĐ-PC54 ngày 03/4/2017, số ma túy thu được củaTrần Văn L là ma túy, loạiMethamphetamine, có trọng lượng 1,4398 gam.
[5] Như vâ ̣y, hành vi của bị cáo đ ủ yếu tố cấu thành tô ̣i “Tà ng trữ trá i phé p chất ma tú y” theo khoản 1 Điều 194 Bô ̣ luâ ̣t hinh sự năm 1999.
̀
Điều 194 Bộ luật hinh sự năm 1999 quy đi ̣nh:
̀
“1. Người nào tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma tuý, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm”.
[6] Xem xét nhân thân và các tinh tiết giảm nhe ̣, tăng nă ̣ng trách nhiê ̣m hinh sự
̀
̀ của bị cáo thấy: Bị cáo là người có nhân thân xấu do đã nhiều lần bị đưa ra xét xử và bị đưa vào cơ sở giáo dục bắt buô ̣c nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học cho bản thân, tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội.
[7] Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưở ng tinh tiết giảm
̀ nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999; Bố đẻ của bị cáo được tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng Ba, mẹ đẻ của bị cáo được tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng Nhì nên bị cáo được hưở ng tinh tiết giảm nhe ̣ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm x khoản 1 Điều 51
̀ Bộ luật hình sự năm 2015.
[8] Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
Điều 249 Bộ luật hinh sự năm 2015 quy đi ̣nh:
̀
1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm: …
c) Hêrôin, côcain, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;…”
[9] Theo quy đi ̣nh ta ̣i khoản 1 Điều 194 Bô ̣ luâ ̣t Hinh sự năm 1999 mứ c hinh
̀
̀ phạt tù từ 02 năm đến 07 năm là cao hơn so vớ i mứ c hinh pha ̣t tù từ 01 năm đến 05
̀ năm quy đi ̣nh ta ̣i khoản 1 Điều 249 Bô ̣ luâ ̣t Hinh sự năm 2015. Căn cứ vào những
̀
quy đi ̣nh có lợi c ho bi ̣ cáo do thay đổi chinh sách pháp luâ ̣t Hinh sự của Nhà nướ c
́
̀ theo Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội; khoản 3 Điều 7, điểm x khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 249 Bô ̣ luâ ̣t Hinh sự năm 2015; Và căn cứ
̀ vào tính chất , mứ c đô ̣ pha ̣m tô ̣i , tình tiết giảm nhẹ trá ch nhiê ̣m hinh sự , nhân thân
̀ của bị cáo , HĐXX xét thấy cần lên mô ̣t mứ c án tương xứ ng vớ i hành vi pha ̣m tô ̣i của bị cáo đã gây ra , cần thiết cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian mớ i đủ sứ c giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung, nhưng khi lượng hình cũng cần xem xét cân nhắc giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt để bị cáo thấy được chính sách khoan hồng của pháp luật.
[10] Khoản 5 Điều 194 Bô ̣ luâ ̣t hinh sự năm 1999 quy đi ̣nh: “Người phạm tội
̀
còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.” Bị cáo là người nghiện ma túy, có hành vi tàng trữ ma túy vớ i mu ̣c đich sử du ̣ ng, vì vậy không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung
́ là phạt tiền đối với bị cáo.
[11] Trong quá trinh điều tra, truy tố, xét xử bị cáo đều khai đã mua ma túy của
̀ mô ̣t ngườ i nam giới khoảng 40 tuổi, không quen biết, ở khu vực phường T, thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình. Qua điều tra, xác minh, không xác đi ̣nh được cu ̣ thể ngườ i bán ma túy cho bị cáo nên không đủ căn cứ để xử lý.
[12] Về xử lý vâ ̣t chứ ng : Số ma túy thu giữ được của bị cáo là vật thuộc loại Nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.
[13] Đối với chiếc điện thoại Qmobile màu trắng, quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo khai nhận là tài sản của bị cáo, mua để liên lạc với gia đình, bạn bè, không liên quan gì đến hành vi phạm tội nên cần trả lại bị cáo.
[14] Về án phi : Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của
́ pháp luật.
[15] Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn luật định.
Vì các lẽ trên,
́
QUYÊT ĐI ̣NH
1. Tuyên bô:́ Bị cáoTrần Văn L phạm tội“Tà ng trữ trá i phé p chất ma tú y”.
2. Hình phạt : Áp dụng kho ản 1 Điều 194; điểm p khoản 1 Điều 46; Điều 33 Bộ luật Hình sự năm 1999; Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hô ̣i và khoản 3 Điều 7; điểm x khoản 1 Điều 51; điểm c khoản 1 Điều 249 Bô ̣ luâ ̣t Hinh sự năm 2015. Xử pha ̣t bi ̣ cáo Trần Văn L 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù.
̀ Thờ i ha ̣n tù tinh từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ 03/4/2017.
́
3. Về xử lý vâ ̣t chứ ng: Áp dụng Điều 76 Bô ̣ luâ ̣t tố tu ̣ng hinh sự; Điều 41 Bô ̣
̀ luâ ̣t hinh sự.
̀
- Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy hoàn trả sau giám định là 1,3331 gam Methamphetamine được niêm phong trong phong bì số 107/KLGĐ-PC54.
- Trả lại bị cáo 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Qmobile màu trắng, đã cũ nhưng tiếp tục quản lý để đảm bảo thi hành án.
(Số vật chứng trên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Thái Bình đã chuyển Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thái Bình ngày 03/7/2017)
4. Về á n phí : Áp dụng Điều 99 Bô ̣ luâ ̣t tố tu ̣ng hinh sự ; Nghị quyết số
̀ 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buô ̣c bi ̣ cáo Trần Văn L phải nộp 200.000 đồng án phi hinh sự sơ thẩm.
́ ̀
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.
Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngà y tuyên án sơ thẩm 20/7/2017. Nơi nhận:
̀
̉
| - Ngườ i tham gia tố tu ̣ng; ̉ - VKSND TP. Thái Bình; - Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình; - Sở Tư pháp tinh Thả ́i Binh̀ ; - Chi cu ̣c THADS TP.Thái Bình; - Công an thành phố Thái Binh;̀ - Lưu hồ sơ vu ̣ án. | T/M HỘI ĐÔNG XÉ T XỬ SƠ THÂM THÂM PHÁ N – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đa ky) ̃ ́ |