vanban.org

Bản án 111/2017/DS-ST — Dân sự

TAND TX. Tân Châu, tỉnh An Giang Tuyên án 28/09/2017 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

227; Điều 147, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 428; 438; 298 Bộ luật dân sự năm 2005, khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lê Văn H, buộc ông Nguyễn Văn N và bà Nguyễn Thị T có trách nhiệm liên đới thanh toán cho ông Lê Văn H số tiền là 170.629.000 đồng (Một trăm bảy mươi triệu sáu trăm hai mươi chín ngàn đồng). Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu tính lãi suất tính từ ngày 08/05/2016 cho… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án dân sự — "hợp đồng mua bán tài sản"
  • Tòa quyết gì? 227; Điều 147, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 428; 438; 298 Bộ luật dân sự năm 2005, khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 199 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ TÂN CHÂU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 111/2017/DS –ST
Ngày: 28 - 9 - 2017
“V/v tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN CHÂU, TỈNH AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Ngọc Diệu

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Hoàng Tam

2. Bà Võ Thị Kim Linh

- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Minh Sang là Thư ký Tòa án nhân dân thị

xã Tân Châu, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tân Châu tham gia phiên

tòa: Ông Nguyễn Bảo Thịnh- Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 09 năm 2017 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu

xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 44/2017/TLST-DS ngày 10 tháng 05 năm 2017 về việc “Tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 226/2017/QĐXXST-HNGĐ ngày 21 tháng 08 năm 2017 và Quyết định hoãn phiên tòa số 312/2017/QĐST-DS giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Lê Văn H, sinh năm 1952

Nơi cư trú: số 272 tổ 10 đường Trần Phú, khóm Long Hưng, phường

Long Châu, thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang(có mặt)

- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1970

Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1968

Cùng cư trú: tổ 10 ấp Phú Yên, xã Phú Lộc, thị xã Tân Châu, tỉnh An

Giang(vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 04/05/2017, bản tự khai và lời khai tại Tòa án,

nguyên đơn ông Lê Văn H trình bày:

Vào vụ Đông Xuân năm 2015 – 2016 ông Nguyễn Văn N có mua phân

bón và thuốc bảo vệ thực vật của ông Lê Văn H để canh tác đất nông nghiệp, Ông N và bà T mua nhiều lần, nên tổng số tiền là 190.629.000 đồng, hai bên thỏa thuận sau khi thu hoạch vụ mùa thì thanh toán dứt điểm số tiền mua phân bón thuốc bảo vệ thực vật. Sau khi ông N thu hoạch xong thì có trả cho ông H số tiền 20.000.000 đồng và còn nợ lại số tiền 170.629.000 đồng, và ông N bà T hẹn vài ngày sau sẽ thanh toán, nhưng đến nay chưa thanh toán tiền cho ông H. Nay ông Lê Văn H yêu cầu vợ chồng ông Nguyễn Văn N và bà Nguyễn Thị T cùng có trách nhiệm liên đới trả số tiền 170.629.000 đồng và ông H không yêu cầu tính lãi suất phát sinh.

Tại phiên tòa ông Lê Văn H vẫn giữ nguyên ý kiến đã trình bày trong

quá trình giải quyết vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tân Châu có ý kiến với việc tuân theo pháp luật của thẩm phán, Hội đồng xét xử trong quá trình giải quyết vụ án là đảm bảo đúng qui định pháp luật. Về chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng trong quá trình thụ lý và tại phiên tòa, các đương sự đã chấp hành đúng quyền, nghĩa vụ và nội quy phiên tòa như đã quy định.

Về nội dung vụ án: Hợp đồng mua bán tài sản giữa ông Lê Văn H và vợ chồng ông Nguyễn Văn N và bà Nguyễn Thị T, hợp đồng mua bán tài sản (phân bón và thuốc bảo vệ thực vật) hai bên tuy không lập thành văn bản, nhưng có giấy xác nhận mua hàng và giấy xác nhận nợ, khi ông H khởi kiện thì Tòa án đã tống đạt các văn bản nhưng vợ chồng ông N bà T cũng không có ý kiến phản hồi, và vắng mặt không lý do. Do đó đề nghị HĐXX căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ để giải quyết vụ án theo Điều 428; 438; 298 Bộ luật dân sự năm 2005, do đó đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lê Văn H, buộc ông Nguyễn Văn N và bà Nguyễn Thị T có trách nhiệm liên đới trả số tiền 170.629.000.000 đồng cho ông Lê Văn H.

Đình chỉ 01 phần yêu cầu khởi kiện của ông Lê Văn H đối với yêu cầu tính lãi suất tính từ ngày 08/05/2016 đến khi xét xử của số tiền 170.629.000 đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại

phiên tòa, căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Ông Lê Văn H và ông Nguyễn Văn N, bà Nguyễn Thị

T tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Trong quá trình thụ lý giải quyết vụ án dân sự, đã tiến hành các thủ tục tố

tụng dân sự theo quy định của pháp luật và ông Nguyễn Văn N và bà Nguyễn Thị T đã nhận các văn bản tố tụng của Tòa án nhưng ông N bà T vắng mặt không lý do. Do ông N bà T vắng mặt không lý do nên căn cứ điểm b khoản 2 Điều 199 Bộ luật tố tụng dân sự, do đó Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt ông Nguyễn Văn N và bà Nguyễn Thị T.

Về nội dung:

Căn cứ vào lời trình bày và tài liệu chứng cứ do nguyên đơn ông Lê

Văn H cung cấp xác định vợ chồng ông Nguyễn Văn N và bà Nguyễn Thị T mua phân bón và thuốc bảo vệ thực vật để canh tác đất nông nghiệp vụ Đông Xuân năm 2015-2016, cụ thể ông N mua nhiều lần, mỗi lần mua đều có xác nhận hàng và xác nhận nợ, tổng số tiền tiền là 190.629.000 đồng, hai bên thỏa thuận sau khi thu hoạch vụ mùa thì thanh toán dứt điểm số tiền mua phân bón thuốc bảo vệ thực vật. Sau khi ông N thu hoạch xong thì có trả cho ông H số tiền 20.000.000 đồng và còn nợ lại số tiền 170.629.000 đồng, và ông N bà T hẹn vài ngày sau sẽ thanh toán, nhưng đến nay chưa thanh toán tiền cho ông H. Nay ông Lê Văn H yêu cầu vợ chồng ông Nguyễn Văn N và bà Nguyễn Thị T cùng có trách nhiệm liên đới trả số tiền 170.629.000 đồng và ông H không yêu cầu tính lãi suất phát sinh.

Căn cứ vào các văn bản tố tụng thông báo thụ lý vụ án, thông báo về

phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, ông N và bà T được tống đạt và ký nhận, nhưng ông bà không nộp cho Tòa án văn bản ghi ý kiến của mình đối với yêu cầu của nguyên đơn và ông N bà T vắng mặt không lý do.

Xét, về hợp đồng mua bán tài sản giữa ông Lê Văn H và vợ chồng

ông Nguyễn Văn N và bà Nguyễn Thị T. HĐXX xét thấy, hợp đồng mua bán tài sản (phân bón và thuốc bảo vệ thực vật) hai bên tuy không lập thành văn bản, nhưng có giấy xác nhận mua hàng và giấy xác nhận nợ, xác lập trên cơ sở tự nguyện, không trái đạo đức xã hội, không trái quy định pháp luật nên phát sinh quyền và nghĩa vụ các bên.

Trong quá trình thụ lý giải quyết ông H cung cấp người làm chứng ông

Trần Văn H, và ông H xác nhận vợ chồng ông N bà T có mua phân bón, thuốc bảo vệ thực vật của ông H, vì phân bón và thuốc bảo vệ thực vật ông H gửi nhà của ông H để tiện cho những người mua đến đó chở vào đất canh tác thuận tiện hơn, và ông N bà T cũng đã nhận được các văn bản tố tụng của Tòa án tống đạt về việc ông H khởi kiện yêu cầu trả số tiền 170.629.000 đồng tiền mua bán tài sản (phân bón, thuốc bảo vệ thực vật) nhưng ông N bà T cũng không có ý kiến phản hồi. Do đó HĐXX căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ để giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật. Xét thấy trong quá trình mua bán ông N bà T đã vi phạm về nghĩa vụ thanh toán nợ cho ông H, phía ông H khởi kiện vợ chồng ông N bà T cùng có trách nhiệm liên đới trả số tiền còn nợ là 170.629.000 đồng là có căn cứ. Bởi lẽ vợ chồng ông N bà T là vợ chồng hợp pháp và ông N mua phân bón, thuốc bảo vệ thực vật để phục vụ cho canh tác đất nông nghiệp, phục vụ cho nhu cầu kinh tế gia đình. Do đó, buộc ông N và bà T cùng có trách nhiệm liên đới trả tiền mua phân bón, thuốc bảo vệ thực vật cho ông Lê Văn H số tiền 170.629.000 đồng là có căn cứ phù hợp với quy định pháp luật.

Theo đơn khởi kiện của ông H yêu cầu vợ chồng của ông N bà T phải trả

lãi suất trên số tiền 170.629.000.000 đồng tính từ ngày 08/5/2016 cho đến khi xét xử, nhưng đến ngày 11/9/2017 ông H rút lại yêu cầu không tính lãi suất phát sinh. Xét thấy việc rút yêu cầu nói trên là hoàn toàn tự nguyện, căn cứ điểm c khoản 1 Điều 217 và khoản 2 Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử đối với yêu cầu tính lãi suất phát sinh của ông H, ông H không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu đã đình chỉ xét xử.

[ 4] Về án phí dân sự sơ thẩm:

Do yêu cầu khởi kiện được chấp nhận nên ông H không phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm, hoàn trả cho ông H tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Ông Nguyễn Văn N và bà Nguyễn Thị T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm

trên số tiền phải trả cho ông H theo quy định của khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm b khoản 2 Điều

227; Điều 147, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 428; 438; 298 Bộ luật dân sự năm 2005, khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án. Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lê Văn H, buộc ông Nguyễn Văn N và bà Nguyễn Thị T có trách nhiệm liên đới thanh toán cho ông Lê Văn H số tiền là 170.629.000 đồng (Một trăm bảy mươi triệu sáu trăm hai mươi chín ngàn đồng).

2. Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu tính lãi suất tính từ ngày 08/05/2016 cho đến khi xét xử của số tiền 170.629.000 đồng của ông Lê Văn H, nếu có tranh chấp thì có quyền khởi kiện lại theo quy định của pháp luật.

3. Về án phí:

Ông Nguyễn Văn N và bà Nguyễn Thị T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 8.531.000 (tám triệu năm trăm ba mươi một ngàn) đồng.

Hoàn trả lại cho ông Lê Văn H tiền tạm ứng án phí đã nộp là 4.265.000 đồng theo biên lai thu số 0012274 ngày 09/05/2017 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang.

“Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.”

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 của Luật thị hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ