- Tranh chấp gì? Tranh chấp về xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha mẹ — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp về xác định cha cho con giữa bà Trần Thị Thúy K và ông Huỳnh Phan Hữu H"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị Thúy K. Xác định ông Huỳnh Phan Hữu H là cha đẻ của trẻ Nguyễn Hữu K, sinh ngày 19/9/2013.
- Căn cứ chính? Điều 101 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 102 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 266 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 1104/2023/HNGĐ-ST Ngày: 17 - 8 - 2023 V/v: Tranh chấp về xác định cha cho con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Trần Thúy Duyên
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Châu Thị Lệ
Bà Nguyễn Thị Lý
- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thị Thảo Nguyên - Thư ký Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Cẩm Thu - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 8 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 21/2023/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 01 năm 2023 về: “Tranh chấp xác định cha cho con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 265/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 23 tháng 6 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên toà số 282/2023/QĐST - HNGĐ ngày 21 tháng 7 năm 2023 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Trần Thị Thúy K, sinh năm 1975
Bị đơn: Ông Huỳnh Phan Hữu H, sinh năm 1972
Cùng địa chỉ: Số 226/12/1 đường Nguyễn Văn L, Phường M, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh. (cùng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Duy K, sinh năm 1973; địa chỉ: Số 004, cư xá 675 đường Nguyễn K, Phường C, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 21 tháng 12 năm 2022 và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Trần Thị Thúy K trình bày:
Bà và ông Nguyễn Duy K kết hôn vào năm 1998. Vợ chồng chung sống đến năm 2018 thì ly hôn theo Quyết định số 617/2018/QĐHNGĐ-ST ngày 21/5/2018 của Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh.Trong thời kỳ hôn nhân với ông K, bà có quan hệ tình cảm với ông Huỳnh Phan Hữu H và đã mang thai với ông H sinh ra trẻ Nguyễn Hữu K ngày 19/9/2013 nhưng bà đăng ký Giấy khai sinh cho trẻ K có tên cha là Nguyễn Duy K. Bà xác định ông K chỉ đứng tên trên giấy tờ để tiện làm thủ tục cho con, thực tế ông H mới là cha ruột của trẻ K. Nay bà đề nghị Tòa xác định trẻ K là con ruột của ông H.
Bị đơn ông Huỳnh Phan Hữu H trình bày: Ông thống nhất như bà K trình bày về mối quan hệ trên. Ông và bà K quen biết nhau vào năm 2013, mặc dù biết bà Kđã có gia đình nhưng ông vẫn quan hệ tình cảm với bà. Sau đó bà Kmang thai và sinh ra trẻ Nguyễn Hữu K ngày 19/9/2013. Đối với yêu cầu của bà K ông không có ý kiến gì, ông đề nghị Tòa án xem xét và giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.
Ngày 22/6/2023 nguyên đơn và bị đơn cùng có Đơn đề nghị Tòa đưa vụ án ra xét xử vắng mặt và giữ nguyên ý kiến đã trình bày tại các bản tự khai. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án, giấy triệu tập; các thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải; quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa nhưng không giao nộp cho Tòa án văn bản trình bày ý kiến về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và các tài liệu, chứng cứ kèm theo; đồng thời vắng mặt không lý do trong suốt quá trình tố tụng và tại phiên tòa.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp phát biểu ý kiến:
Về thủ tục tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng, đầy đủ trình tự thủ tục tố tụng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:
Xét đơn kiện của nguyên đơn, Hội đồng xét xử xác định đây là quan hệ: “Tranh chấp xác định cha cho con”. Do bị đơn cư trú tại quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh, theo quy định tại khoản 4 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh.
Về thủ tục tố tụng:
Nguyên đơn, bị đơn có đơn đề nghị Tòa đưa vụ án ra xét xử vắng mặt; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được Toà án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại khoản 2 Điều 227, khoản 1 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Xét yêu cầu của nguyên đơn, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Trần Thị Thúy K xác định trẻ Nguyễn Hữu K sinh ngày 19/9/2013 không phải là con của ông Nguyễn Duy K, tại thời điểm sinh trẻ K thì bà và ông K vẫn là vợ chồng hợp pháp, do đó Giấy khai sinh số 411, quyển số 03/2013, ngày đăng ký 29/10/2013 của UBND Phường 17, quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh ghi tên cha của trẻ K là ông Nguyễn Duy K. Bị đơn ông Huỳnh Phan Hữu H xác nhận có mối quan hệ tình cảm với bà K, ông đề nghị Tòa giải quyết theo quy định pháp luật.
Về phía người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông K mặc dù đã được Tòa tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng vẫn không nộp cho Tòa án văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện và tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn giao nộp; đồng thời cũng không nộp tài liệu, chứng cứ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ để xét xử vụ án.
Căn cứ kết quả giám định số 1913/KL-KTHS ngày 14/4/2023 của Phân viện Khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh thể hiện: “Ông Huỳnh Phan Hữu H có quan hệ huyết thống cha - con với cháu Nguyễn Hữu K”. Tòa án đã tiến hành công bố kết quả giám định nêu trên nhưng các bên đương sự không có ý kiến gì đối với kết quả giám định.
Từ những phân tích trên, căn cứ Điều 101 và Điều 102 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Xác định ông Huỳnh Phan Hữu H là cha đẻ của trẻ Nguyễn Hữu K, sinh ngày 19/9/2013. Bà Trần Thị Thúy K và ông Huỳnh Phan Hữu H được quyền liên hệ với cơ quan chức năng có thẩm quyền để thực hiện thủ tục cải chính hộ tịch cho trẻ Nguyễn Hữu K.
Về án phí: Nguyên đơn thuộc trường hợp được miễn án phí theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với quy định của pháp luật nên được Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các điều 266, 271, 273 và Điều 278 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 101 và Điều 102 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội;
Tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị Thúy K. Xác định ông Huỳnh Phan Hữu H là cha đẻ của trẻ Nguyễn Hữu K, sinh ngày 19/9/2013.
Bà Trần Thị Thúy K và ông Huỳnh Phan Hữu H được quyền liên hệ với cơ quan chức năng có thẩm quyền để thực hiện thủ tục cải chính hộ tịch cho trẻ Nguyễn Hữu K.
2. Về án phí: Nguyên đơn thuộc trường hợp được miễn nộp án phí.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền được thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
3. Về quyền kháng cáo:
Các đương sự được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại địa phương.
| Nơi nhận: - TAND TP.HCM; - VKSND Q.GV; - Chi cục THADS Q.GV; - Cơ quan thực hiện việc đăng ký hộ tịch; - Các đương sự; - Lưu VP, hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Nguyễn Trần Thúy Duyên |