vanban.org

Bản án 1103/2024/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

TAND Q. Bình Tân, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 26/09/2024 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng vay tài sản"
  • Căn cứ chính? Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN BÌNH TÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 1103/2024/DS-ST
Ngày: 26/9/2024
V/v Tranh chấp hợp đồng
vay tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH TÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Nga

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Võ Phương Trang;

2. Bà Trần Thị Thiếu Liên.

Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Tuyết Mai, thư ký Tòa án nhân dân quận

Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Tân tham gia phiên tòa: Hồ

Thị Vân, Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Bình Tân,

Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số:

39/2024/TLST- DS ngày 16 tháng 01 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng

vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 662/2024/QĐXXST-DS

ngày 06 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 530/2024/QĐST-DS

ngày 30 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Nguyễn Thị Sơn C, sinh năm: 1987. Địa chỉ: Ấp 5, xã Vĩnh C

B, huyện Tân H, tỉnh L A. Người đại diện theo ủy quyền ông Nguyễn Thanh S,

sinh năm: 1983. Theo Giấy ủy quyền số công chứng 007297 Quyển số 12/2023

TP/CC-SCC/HĐGD ngày 16/12/2023. (Có mặt)

Bị đơn: ông Lý Q, sinh năm: 1976. Địa chỉ: số 350/11 đường C L, phường

Bình Trị Đ, quận B, Thành phố H. (Vắng mặt)

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Lâm Quốc H, sinh năm:

1984. Địa chỉ: Ấp 5, xã Vĩnh C B, huyện Tân H, tỉnh L A. (Có đơn xin vắng

mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo Đơn khởi kiện ngày 11/12/2023, đơn sửa đổi bổ sung đơn khởi kiện

ngày 22/02/2024 của nguyên đơn và bản tự khai tại tòa cùng các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập được có trong hồ sơ thì nội dung vụ án được xác định như sau:

Bà Nguyễn Thị Sơn C là nguyên đơn có ông Nguyễn Thanh S là đại diện ủy

quyền trình bày:

Vào ngày 22/10/2020 bà Nguyễn Thị Sơn C có cho ông Lý Q mượn số tiền

là 200.000.000 (hai trăm triệu đồng chẵn), do là bạn bè có quen biết từ trước nên giữa bà Sơn C và ông Lý Q không có hợp đồng hoặc giấy mượn tiền cũng như không thỏa thuận thời gian cụ thể để thanh toán. Việc giao nhận tiền thông qua hình thức chuyển khoản, cụ thể ngày 22/10/2020 tại Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam bà Nguyễn Thị Sơn C đã nộp số tiền 200.000.000 (hai trăm triệu) đồng vào số tài khoản xxxxxxxxxxxx mở tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín chủ tài khoản là ông Lý Q.

Sau rất nhiều lần liên hệ và tìm gặp để đòi lại số tiền trên nhưng đến nay

ông Quyền không đồng ý thanh toán khoản tiền trên cho bà Sơn C. Ngày 24/11/2023 bà Nguyễn Thị Sơn C đã gửi thông báo đòi nợ về ấn định thời gian thanh toán cho ông Lý Q vào ngày 01/12/2023. Tuy nhiên, đến thời điểm ấn định bà Sơn C vẫn không nhận được sự hồi đáp của ông Quyền. Việc làm của ông Lý Q đã xâm phạm nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bà Sơn C theo quy định của pháp luật. Do đó, bà Nguyễn Thị Sơn C yêu cầu Toà án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh giải quyết buộc ông Lý Q hoàn trả cho bà Nguyễn Thị Sơn C một lần toàn bộ số tiền là 200.000.000 (hai trăm triệu đồng chẵn). Bà Nguyễn Thị Sơn C không yêu cầu ông Quyền trả lãi đối với số tiền trên.

Bà Sơn C xác định chỉ cho ông Quyền vay tiền nên chỉ yêu cầu một mình

ông Quyền có trách nhiệm trả tiền nợ.

Bị đơn ông Lý Q đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án,

Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải để ông đến Tòa án giải quyết vụ kiện, nhưng ông Lý Q vắng mặt không có lý do và cũng không gửi cho Tòa án ý kiến trình bày của ông đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lâm Quốc H tại bản tự khai

ngày 29/02/2024 trình bày:

Ông Hưng và bà Nguyễn Thị Sơn C là vợ chồng hợp pháp theo giấy chứng

nhận kết hôn số 08/2016. Vào ngày 22/10/2020, bà Sơn C có cho ông Lý Q mượn số tiền là 200.000.000 (hai trăm triệu đồng chẵn), do có quen biết từ trước nên giữa bà Sơn C và ông Lý Q không có hợp đồng hoặc giấy mượn tiền cũng như không thỏa thuận thời gian cụ thể để thanh toán, đây là số tiền chung của vợ chồng ông, bà có được trong thời kỳ hôn nhân. Sau rất nhiều lần liên hệ và tìm gặp để đòi lại số tiền trên nhưng đến nay ông Quyền không đồng ý thanh toán khoản tiền trên cho ông, bà.

Ngày 24/11/2023 bà Sơn C đã gửi thông báo đòi nợ về ấn định thời gian

thanh toán cho ông Lý Q vào ngày 01/12/2023. Tuy nhiên, đến thời điểm ấn

định bà Sơn C vẫn không nhận được sự hồi đáp của ông Quyền. Việc làm của

ông Lý Q đã xâm phạm nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của vợ

chồng ông theo quy định của pháp luật.

Do đó, bà Sơn C đã nộp đơn khởi kiện yêu cầu Toà án nhân dân quận Bình

Tân, Thành phố Hồ Chí Minh buộc ông Lý Q hoàn trả cho vợ chồng ông, bà một

lần toàn bộ số tiền là 200.000.000 (hai trăm triệu) đồng. Ông đồng ý với yêu cầu

khởi kiện của bà Nguyễn Thị Sơn C và không bổ sung gì thêm.

Vụ án không tiến hành hòa giải được do vắng mặt bị đơn. Do đó, Tòa án

đưa vụ án ra xét xử công khai ngày hôm nay.

Tại phiên tòa, phía đại diện nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện

của nguyên đơn, riêng bị đơn tiếp tục vắng mặt không có lý do.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Bình Tân phát biểu ý kiến và kết

luận: Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án Toà án đã thực hiện đúng quy định của

Bộ luật tố tụng dân sự về thẩm quyền, thủ tục. Thời hạn xét xử chưa bảo đảm

theo quy định tại Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn chấp hành đúng

quy định của pháp luật về quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều

70, 71 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn không tuân theo quy định tại Điều 70 và

72 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung:

Căn cứ giấy nộp tiền ngày 22/10/2020 tại Ngân hàng Nông nghiệp và phát

triển nông thôn Việt Nam chi nhánh Tân Hưng, tỉnh Long An do bà Nguyễn Thị

Sơn C nộp số tiền 200.000.000 đồng vào tài khoản xxxxxxxxxxxx tại Ngân hàng

Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín cho ông Lý Q với nội dung “chuyen

tien cho muon” có cơ sở xác định ông Lý Q có vay của bà Nguyễn Thị Sơn C số

tiền là 200.00.000 đồng, không có thời hạn vay và không thoả thuận lãi suất.

Ngày 24/11/2023 bà Nguyễn Thị Sơn C đã gửi thông báo nợ và ấn định thời

gian yêu cầu trả nợ đối với ông Lý Q. Tuy nhiên, hết thời hạn trả tiền nhưng ông

Lý Q không hoàn trả số tiền vay là vi phạm nghĩa vụ bên vay tiền theo luật định.

Căn cứ Điều 463, Điều 466 Bộ luật dân sự 2015 đề nghị Hội đồng xét xử chấp

nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn buộc bị đơn trả tiền nợ gốc ngay khi án

có hiệu lực pháp luật.

- Các đương sự đều không nộp thêm chứng cứ mới cho Tòa án và không

yêu cầu Tòa án thu thập thêm tài liệu, chứng cứ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại

phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận

định:

Về thẩm quyền giải quyết: Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải

quyết vụ án: Xét yêu cầu của nguyên đơn thì quan hệ pháp luật trong vụ án được

xác định là “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” được quy định tại Khoản 3 Điều

26 Bộ luật tố tụng dân sự, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp huyện theo quy định tại điểm a Khoản 1 Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự; Bị đơn có nơi cư trú tại quận Bình Tân nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại điểm a Khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Vụ án thuộc trường hợp Viện kiểm sát tham gia phiên tòa theo Khoản 2

Điều 21 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Về thủ tục tố tụng:

Về thủ tục tố tụng: Bị đơn – ông Lý Q, đã được triệu tập nhiều lần nhưng

vẫn vắng mặt không có lý do, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Lâm Quốc H có đơn đề nghị vắng mặt. Do đó, căn cứ vào quy định tại điểm b Khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự có tên trên.

Bị đơn ông Lý Q đã được Tòa án triệu tập nhiều lần đến Tòa để giải quyết

vụ án theo quy định của pháp luật nhưng ông Quyền vẫn vắng mặt không có lý do. Như vậy, ông Lý Q đã tự tước bỏ quyền phản đối yêu cầu của nguyên đơn đối với mình, tự tước bỏ quyền được chứng minh của mình, nên bị đơn phải chịu hậu quả của việc không chứng minh theo quy định tại Điều 91 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Theo quy định tại khoản 2 Điều 92 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, thì: “Một bên đương sự thừa nhận hoặc không phản đối những tình tiết, sự kiện, tài liệu, văn bản, kết luận của cơ quan chuyên môn mà bên đương sự kia đưa ra thì bên đương sự đó không phải chứng minh”. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ yêu cầu khởi kiện, lời khai của đại diện nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án để xem xét giải quyết vụ án.

Về nội dung vụ án:

Xét qua yêu cầu buộc ông Lý Q phải trả cho bà Nguyễn Thị Sơn C số tiền

còn nợ là 200.000.000 đồng, yêu cầu trả một lần ngay khi án có hiệu lực pháp luật, Hội đồng xét xử xét thấy:

Xét yêu cầu trả số nợ gốc của nguyên đơn đối với bị đơn:

Căn cứ giấy nộp tiền ngày 22/10/2020 tại Ngân hàng Nông nghiệp và phát

triển nông thôn Việt Nam chi nhánh Tân Hưng, tỉnh Long An do bà Nguyễn Thị Sơn C nộp số tiền 200.000.000 đồng vào số tài khoản xxxxxxxxxxxx tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín cho ông Lý Q với nội dung “chuyen tien cho muon” có cơ sở xác định bà Nguyễn Thị Sơn C cho ông Lý Q mượn số tiền 200.000.000 đồng, không thoả thuận thời gian trả và không thoả thuận lãi suất. Giao dịch hai bên xác lập là hợp đồng vay tài sản không có kỳ hạn quy định tại Điều 463, Điều 469 Bộ luật Dân sự.

Theo quy định khoản 1 Điều 469 Bộ luật Dân sự thì “Đối với hợp đồng

vay không kỳ hạn và không có lãi thì bên cho vay có quyền đòi lại tài sản và bên vay cũng có quyền trả nợ vào bất cứ lúc nào, nhưng phải báo cho nhau biết trước một thời gian hợp lý, trừ trường hợp có thỏa thuận khác”. Ngày

24/11/2023 bà Nguyễn Thị Sơn C đã gửi thông báo nợ và ấn định thời gian yêu

cầu trả nợ đối với ông Lý Q là sau 7 ngày kể từ ngày nhận được thông báo. Tuy

nhiên, hết thời hạn yêu cầu trả tiền đã lâu nhưng ông Lý Q không hoàn trả số

tiền nợ cho bà Sơn C. Do đó, nguyên đơn yêu cầu ông Lý Q phải trả nợ gốc

200.000.000 đồng là có cơ sở chấp nhận.

. Về thời hạn thanh toán: Do bị đơn vi phạm thời hạn thanh toán

trong một thời gian dài nên chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn buộc bị đơn phải

thanh toán toàn bộ số tiền trên cho nguyên đơn ngay khi án có hiệu lực pháp

luật.

Đối với ý kiến phát biểu tại phiên tòa của đại diện Viện Kiểm sát nhân

dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh thấy rằng, các ý kiến và đề nghị

của đại diện Viện Kiểm sát về hình thức và nội dung là phù hợp quy định của

pháp luật, nên chấp nhận.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu được chấp nhận nên nguyên

đơn không phải nộp án phí, hoàn trả cho nguyên đơn toàn bộ số tiền tạm ứng án

phí đã nộp.

Ông Lý Q phải nộp án phí tính trên số tiền 200.000.000 đồng phải trả cho

bà Nguyễn Thị Sơn C; án phí được tính là: 10.000.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 điều 35, điểm a khoản 1 điều 39,

khoản 2 Điều 91, khoản 2 Điều 92, Điều 266, Điều 273, Điều 244 Bộ luật Tố

tụng dân sự 2015.

Căn cứ Điều 357, Điều 463, Điều 466, Điều 469 Bộ luật Dân sự 2015.

Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban

thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử

dụng án phí và lệ phí Tòa án

Căn cứ vào Luật Thi hành án Dân sự năm 2008.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Sơn C.

2. Buộc ông Lý Q có trách nhiệm trả cho bà Nguyễn Thị Sơn C số tiền nợ

gốc là 200.000.000 (hai trăm triệu) đồng; trả một lần ngay khi án có hiệu lực

pháp luật.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối

với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án

xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản

tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2

Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

3. Về án phí: Ông Lý Q phải nộp 10.000.000 (mười triệu) đồng án phí dân

sự sơ thẩm tại cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.

Hoàn lại cho bà Nguyễn Thị Sơn C số tiền 5.000.000 (năm triệu) đồng

tiền tạm ứng án phí mà bà Nguyễn Thị Sơn C đã nộp theo biên lai thu số AA/2023/0027282 ngày 11/01/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh.

4. Quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo

trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quyết định tại Điều 2

Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án Dân sự.

Cỡ chữ