vanban.org

Bản án 1102/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

TAND TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 06/09/2019 Hôn nhân và gia đình Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

227, Điều 228, Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự;

nhân và gia đình năm 2014; ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tạ Thị Mỹ H-Chau Beo K"
  • Tòa quyết gì? 227, Điều 228, Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự;
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 121 Luật Hôn nhân và gia đình

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Bản án số: 1102/2019/HNGĐ-ST
Ngày: 06-9-2019

V/v tranh chấp ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm"phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lưu Thị Thủy Tiên

Các"Hội"thẩm"nhân"dân:

1. Bà Lê Thị Nhung

2. Bà Lê Thị Nhanh

-" Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Văn Thùy – Thư ký Tòa án nhân dân

Thành phố Hồ Chí Minh.

Trong ngày 06 tháng 9 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố

Hồ Chí Minh. Xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 351/2019/TLST-HNGĐ, ngày 02 tháng 7 năm 2019 về “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 3846/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 19 tháng 8 năm 2019, giữa các đương sự:

1."Nguyên"đơn: Bà Tạ Thị Mỹ H, sinh năm 1979 (vắng mặt).

Địa chỉ: Hẻm số 220 đường X, Phường M, quận B, Thành phố Hồ Chí

Minh.

2."Bị"đơn: Ông Chau Beo K, sinh năm 1962 (vắng mặt).

Quốc tịch: Hoa Kỳ.

Địa chỉ: #B5 Honolulu, HI 96822, USA.

Các đương sự đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 12/6/2019 và các lời khai trong quá trình tố

tụng, nguyên đơn là bà Tạ Thị Mỹ H trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Chau Beo K kết hôn trên cơ sở tự nguyện,

có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân quận B, Thành phố Hồ Chí Minh và được cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 117 ngày 21/5/2016. Sau khi kết hôn, vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, bất đồng về quan điểm sống nên thường xuyên cãi vã dẫn đến không hạnh phúc trong nhiều năm qua. Vợ chồng không thể thông cảm và chia sẻ với nhau trong cuộc sống. Mặc dù cả hai đã nhiều lần cố gắng hàn gắn tình cảm nhưng không có kết quả. Bà xác nhận hiện nay tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà đề nghị Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Chau Beo K.

Về con chung: Không có.

Về tài sản chung: Hai bên tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung và nghĩa vụ dân sự chung: Không có, không yêu cầu Tòa án

giải quyết.

Vì bận việc, bà yêu cầu được vắng mặt cho đến khi kết thúc vụ án.

Tại bản khai ngày 11/7/2019 (đã được hợp pháp hóa lãnh sự ngày

15/7/2019 tại Tổng Lãnh sự quán Việt Nam tại Hiu-xtơn, Texas, Hoa Kỳ), bị đơn là ông Chau Beo K xác nhận lời trình bày của bà H về thời điểm kết hôn, về mâu thuẫn chung của vợ chồng, về con chung, tài sản chung, nợ chung và nghĩa vụ dân sự chung là đúng. Nay bà H xin ly hôn, ông đồng ý được ly hôn với bà H. Do bận việc, ông yêu cầu được vắng mặt cho đến khi kết thúc vụ án.

Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn và bị đơn vắng mặt, Hội đồng xét xử

vẫn tiến hành xét xử theo thủ tục chung.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên

tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:

Xét yêu cầu của nguyên đơn, Hội đồng xét xử nhận thấy bà H và ông Chau

Beo K kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân quận B, Thành phố Hồ Chí Minh cấp giấy chứng nhận kết hôn. Vì vậy căn cứ vào Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 đây là hôn nhân hợp pháp, khi một trong các bên có yêu cầu ly hôn, Tòa án xem xét, giải quyết theo đúng quy định của pháp luật.

Bị đơn hiện đang cư trú tại Hoa Kỳ nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết

của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35 và khoản 1 Điều 37 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về việc xét xử vắng mặt đương sự trong vụ án:

Nguyên đơn và bị đơn có văn bản đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ vào

khoản 1 Điều 227; Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.

[3] Xét yêu cầu của bà Tạ Thị Mỹ H được ly hôn ông Chau Beo K, Hội

đồng xét xử xét thấy: Qua lời trình bày của bà H và ông Chau Beo K thì thực tế sau khi kết hôn hai bên phát sinh nhiều mâu thuẫn không thể giải quyết được. Từ khi kết hôn cho đến nay, bà H và ông Chau Beo K không có quá trình chung sống lâu dài, do khoảng cách địa lý nên tình cảm vợ chồng ngày càng phai nhạt, hai bên chưa có sự gắn kết sâu đậm về tình cảm vợ chồng. Hiện nay bà H và ông Chau Beo K đang sinh sống ở hai nước khác nhau nên khả năng đoàn tụ không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy bà H yêu cầu ly hôn với ông Chau Beo K là phù hợp, Hội đồng xét xử chấp nhận.

[4] Về con chung, nợ chung và nghĩa vụ dân sự chung: Bà H và ông Chau

Beo K xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Tòa không xét.

[5] Về tài sản chung: Bà H và ông Chau Beo K đề nghị tự thỏa thuận,

không yêu cầu Tòa án giải quyết. Tòa không xét.

[6] Về án phí hôn nhân sơ thẩm là 300.000 đồng, bà Tạ Thị Mỹ H chịu.

Vì"các"lẽ"trên,"

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, khoản 1 Điều 37, Điều 147, Điều

227, Điều 228, Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào Điều 9, Điều 51, Điều 56, Điều 121 và Điều 127 của Luật Hôn

nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ vào Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy

ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

Xử:

1. Chấp nhận yêu cầu của bà Tạ Thị Mỹ H.

1.1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Tạ Thị Mỹ H được ly hôn với ông Chau Beo

K.

Giấy chứng nhận kết hôn số 117 do Ủy ban nhân dân quận B, Thành phố

Hồ Chí Minh cấp ngày 21/5/2016 cho bà Tạ Thị Mỹ H và ông Chau Beo K không còn giá trị pháp lý.

1.2. Về con chung, nợ chung và nghĩa vụ dân sự chung: Bà Tạ Thị Mỹ H

và ông Chau Beo K xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Tòa không xét.

1.3. Về tài sản chung: Bà Tạ Thị Mỹ H và ông Chau Beo K đề nghị tự thỏa

thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Tòa không xét.

2. Về án phí hôn nhân sơ thẩm là 300.000 đồng, bà Tạ Thị Mỹ H chịu và

được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng mà bà H đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu số AA/2018/0025976 ngày 26/6/2019 của Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh. Bà H đã nộp đủ tiền án phí.

3. Bà Tạ Thị Mỹ H được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ

ngày tống đạt hợp lệ bản án. Ông Chau Beo K được quyền kháng cáo trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ. Viện kiểm sát được quyền kháng nghị theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Cỡ chữ