vanban.org

Bản án 110/HSST — Hình sự

TAND TP. Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh Tuyên án 25/05/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo: Bùi Đăng L phạm tội “Cướp giật tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Bùi Đăng L ........(…………………….) ……… tù. Thời hạn tù tính từ ngày 12/01/2022./. Công an TP. Bắc Ninh; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Đăng L - Cướp giật tài sản - không phạm tội cướp giật tài sản (điều 171 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo: Bùi Đăng L phạm tội “Cướp giật tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 109 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ BẮC NINH
TỈNH BẮC NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 110/2022/HSST
Ngày 25/5/2022

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC NINH, TỈNH BẮC NINH

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Văn Đại

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Xuân Bằng và bà Hoàng Thảo Yến.

Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Cường Dũng - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hùng, Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 5 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 129/2022/TLST-HS ngày 28 tháng 4 năm 2022 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số:110/2022/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 5 năm 2022, đối với bị cáo:

Bùi Đăng L, sinh năm 2000; HKTT: Thôn P, xã C, huyện Q, tỉnh Bắc Ninh; Chỗ ở: Khu Lãm Làng, phường Vân Dương, thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Bùi Văn N, sinh năm 1971 và bà Nguyễn Thị D, sinh năm 1978; Gia đình bị cáo có 02 anh em, bị cáo là con thứ hai; Vợ, con: Chưa có;

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam ngày 12/01/2022 đến nay, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh, có mặt tại phiên tòa.

* Bị hại: Chị Lê Thị Th, sinh năm 1983; Nơi cư trú: Khu L, phường V, thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh (Xin xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 13 giờ ngày 12/01/2022, Bùi Đăng L đi bộ từ phòng trọ ở khu Lãm Làng, phường Vân Dương, thành phố Bắc Ninh ra khu vực chợ Lãm Làng, với mục đích xem ai có tài sản sở hở sẽ chiếm đoạt bán lấy tiền ăn tiêu cá nhân. Khi đến trước cửa hàng vàng bạc Đức Quang ở khu Lãm Làng, L đã nảy sinh ý định vào cửa hàng vàng bạc Đức Quang để cướp giật tài sản. Sau đó L đi vào trong cửa hàng vàng bạc Đức Quang gặp chị Lê Thị Th, sinh năm 1983, HKTT: Khu Lãm Làng, phường Vân Dương, thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh là chủ cửa hàng. L hỏi chị Th giá vàng và đề nghị chị Th cho xem một số loại dây chuyền vàng, chị Th đồng ý lấy ba sợi dây chuyền vàng từ trong tủ kính ra cho L xem, L đồng ý mua sợi dây chuyền 03 chỉ loại vàng 9999, có ghi chữ “NGATBJ”, L bảo chị Th tính tiền sợi dây chuyền vàng này, khi chị Th đang tính tiền thì L cầm sợi dây chuyền trên tay phải và bỏ chạy về phía chợ Lãm Làng. Chị Th chạy đuổi theo L, đồng thời hô “cướp, cướp” và cùng một số người dân đuổi theo L. Đúng lúc này tổ tuần tra Công an phường Vân Dương đi đến và cùng người dân đuổi theo L, L chạy được khoảng 200m thì bị lực lượng Công an cùng người dân đuổi kịp, bắt giữ và thu giữ toàn bộ vật chứng.

Vật chứng thu giữ: Thu giữ ngay dưới đất gần vị trí L đứng: 01 sợi dây chuyền bằng kim loại màu vàng. L khai nhận vừa cướp giật được tại cửa hàng vàng bạc Đức Quang. Công an tiến hành niêm phong vật chứng theo quy định của pháp luật.

Cùng ngày 12/01/2022, Cơ quan Cảnh điều tra Công an thành phố Bắc Ninh ra Quyết định trưng cầu giám định số 74 gửi Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Ninh giám định 01 sợi dây chuyền bằng kim loại màu vàng có ghi chữ “NGATBJ”.

Tại Bản kết luận giám định số 171 ngày 13/01/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Ninh kết luận: 01 (một) dây chuyền vàng bằng kim loại màu vàng, có ghi chữ “NGATBJ” gửi giám định là kim loại vàng (ký hiệu hóa học: Au) có khối lượng là 03 chỉ; hàm lượng vàng (Au) là 99,2%.

Tại Bản kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự số 08 ngày 17/01/2022 của Hội đồng định giá tài sản thành phố Bắc Ninh kết luận giá trị tài sản của sợi dây chuyền trên là 15.675.000 đồng.

Với nội dung trên, tại bản Cáo trạng số 69/CT-VKSTPBN ngày 27/4/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Ninh đã truy tố Bùi Đăng L về tội “Cướp giật tài sản” theo khoản 1, Điều 171 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà hôm nay, bị cáo L đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Ninh đã truy tố và thừa nhận bản cáo trạng truy tố bị cáo về tội “Cướp giật tài sản” là đúng người, đúng tội.

Bị hại chị Lê Thị Th có đơn xin xét xử vắng mặt nên các ý kiến, lời khai của chị Thu có trong hồ sơ vụ án được Hội đồng xét xử công bố theo quy định.

Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Ninh thực hành quyền công tố tại phiên toà trình bày lời luận tội, sau khi phân tích đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, cũng như qua xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Bùi Đăng L phạm tội “Cướp giật tài sản”. Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 171; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt: Bùi Đăng L từ 20 tháng đến 24 tháng tù giam. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự: Bị hại chị Lê Thị Th đã nhận lại toàn bộ tài sản và không có yêu cầu bị cáo L phải bồi thường gì thêm nên không xem xét giải quyết.

Bị cáo L nhận tội, không có ý kiến gì và không tham gia tranh luận với đại diện Viện kiểm sát mà chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để sớm trở về gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thành phố Bắc Ninh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Ninh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Lời khai nhận tội của bị cáo Bùi Đăng L tại cơ quan điều tra và tại phiên toà ngày hôm nay phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang; phù hợp với thời gian, địa điểm, lời khai của bị hại, người làm chứng và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, thể hiện: Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 12/01/2022, tại khu vực chợ Lãm Làng, phường Vân Dương, thành phố Bắc Ninh, Công an phường Vân Dương phối hợp với quần chúng nhân dân bắt quả tang Bùi Đăng L có hành vi cướp giật 01 dây chuyền vàng có khối lượng 03 chỉ, loại vàng 9999, có ghi chữ “NGATBJ” tại cửa hàng vàng bạc Đức Quang do chị Lê Thị Th, sinh năm 1983 ở khu Lãm Làng là chủ cửa hàng, có trị giá 15.675.000 đồng.

Như vậy, thấy đã có đủ cơ sở kết luận hành vi của Bùi Đăng L phạm tội “Cướp giật tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản1 Điều 171 Bộ luật hình sự, như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Ninh đã truy tố đối với các bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ; gây mất trật tự tại địa phương, gây hoang mang lo lắng trong quần chúng nhân, vì vậy phải đưa ra xét xử các bị cáo kịp thời và có hình phạt nghiêm khắc nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo thì thấy: Bị cáo L xuất thân từ gia đình lao động thuần túy, phạm tội lần đầu, tại cơ quan điều tra và tại phiên toà hôm nay bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; Ông nội bị cáo, cụ Bùi Đăng T là người có công với Cách mạng, được tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng nhất; Bố bị cáo, ông Bùi Văn N đã tham gia ủng hộ quỹ phòng chống dịch Covid-19 tại địa phương nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Do vậy, khi lượng hình Hội đồng xét xử cũng cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo thể hiện chính sách khoan hồng của Đảng và Nhà nước. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Sau khi xem xét, đánh giá tính chất và mức độ hành vi phạm tội cũng như nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo và xét đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Ninh là phù hợp với bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải xét xử các bị cáo bằng hình phạt tù cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định mới giúp bị cáo cải tạo trở thành người công dân tốt có ích cho xã hội.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có tài sản riêng nên miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo như lời đề nghị của Viện kiểm sát là phù hợp.

Về vật chứng và trách nhiệm dân sự: Bị hại chị Lê Thị Th đã nhận lại toàn bộ tài sản và không yêu cầu bị cáo L phải bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết như đề nghị của Viện kiểm sát là phù hợp với quy định của pháp luật.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Bùi Đăng L phạm tội “Cướp giật tài sản”.

Áp dụng khoản 1 Điều 171; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự; Điều 136, Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Xử phạt: Bùi Đăng L 20 (Hai mươi) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 12/01/2022.

Quyết định tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.

Về án phí: Buộc bị cáo Bùi Đăng L phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt, niêm yết bản án hợp lệ. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Trần Xuân Bằng Hoàng Thảo Yến

Đỗ Văn Đại Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- Toà án ND tỉnh Bắc Ninh;

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

- VKS, CA,THADS TP. Bắc Ninh;

- VKS, Sở Tư pháp tỉnh Bắc Ninh;

- Bị cáo và người tham gia tố tụng khác;

- Lưu hồ sơ, văn phòng.

Đỗ Văn Đại

TÒA ÁN NHÂN DÂN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

THÀNH PHỐ BẮC NINH

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

________________________________________

TỈNH BẮC NINH

BIÊN BẢN NGHỊ ÁN

Vào hồi, …..giờ….phút, ngày 25 tháng 5 năm 2022;

Tại: Phòng nghị án Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh.

Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Văn Đại

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Xuân Bằng và bà Hoàng Thảo Yến.

Tiến hành nghị án vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 129/2022/TLST-HS ngày 28 tháng 4 năm 2022 đối với:

Bị cáo Bùi Đăng L, sinh năm 2000; HKTT: Thôn Phúc Lộc, xã Châu Phong, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh; Chỗ ở: Khu Lãm Làng, phường Vân Dương, thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh.

Căn cứ Điều 299 và Điều 326 của Bộ luật tố tụng hình sự;

Căn cứ các chứng cứ và tài liệu đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, các quy định của pháp luật.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢO LUẬN, BIỂU QUYẾT, QUYẾT ĐỊNH CÁC

VẤN ĐỀ CỦA VỤ ÁN NHƢ SAU:

1. Về tội danh: Bị cáo Bùi Đăng L phạm tội “Cướp giật tài sản”. Kết quả biểu quyết nhất trí: 3/3.

2. Về điều luật áp dụng: Áp dụng khoản 1 Điều 171; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự; Điều 136, Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Kết quả biểu quyết nhất trí: 3/3

3. Về mức hình phạt: Xử phạt: Bùi Đăng L 20 (Hai mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ 12/01/2022. Kết quả biểu quyết nhất trí: 3/3.

4. Về các vấn đề khác:

Quyết định tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.

Về án phí: Buộc bị cáo Bùi Đăng L phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt, niêm yết bản án hợp lệ. Kết quả biểu quyết nhất trí: 3/3.

Nghị án kết thúc vào hồi ... giờ ... phút, ngày 25 tháng 5 năm 2022.

Biên bản nghị án đã được đọc lại cho tất cả các thành viên Hội đồng xét xử cùng nghe và ký tên./. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Trần Xuân Bằng Hoàng Thảo Yến

Đỗ Văn Đại

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM THÀNH PHỐ BẮC NINH

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

_________________________________

TỈNH BẮC NINH

___________ Số: …../2022/HSST-QĐTG

Bắc Ninh, ngày 25 tháng 5 năm 2022

QUYẾT ĐỊNH TẠM GIAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC NINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Văn Đại.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Trung Giang và Ông Đinh Mai Vân;

Căn cứ các điều 109, 113, 119 và 329 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Căn cứ Biên bản nghị án ngày 25 tháng 5 năm 2022 của Hội đồng xét xử sơ thẩm;

Xét thấy: Cần thiết tiếp tục tạm giam bị cáo để bảo đảm cho việc thi hành án.

QUYẾT ĐỊNH:

Điều 1

Tạm giam bị cáo: Bùi Đăng L, sinh năm 2000; HKTT: Thôn Phúc Lộc, xã Châu Phong, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh; Chỗ ở: Khu Lãm Làng, phường Vân Dương, thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh.

Bị Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt ……(….. ………………….) …………, về tội “Cướp giật tài sản”.

Theo khoản 1, Điều 171 của Bộ luật hình sự.

Thời hạn tạm giam là 45 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Điều 2

Nhà tạm giữ Công an thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh có trách nhiệm thi hành Quyết định này./. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- Nhà tạm giữ CA TP. Bắc Ninh;

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà

- Viện kiểm sát nhân dân TP. Bắc Ninh;

- Bị cáo;

- Lưu hồ sơ vụ án.

Đỗ Văn Đại TOÀ ÁN NHÂN DÂN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc THÀNH PHỐ BẮC NINH

_____________________________________

TỈNH BẮC NINH

Số: ...../2022/TLHS

Bắc Ninh, ngày 25 tháng 5 năm 2022

TRÍCH LỤC BẢN ÁN HÌNH SỰ

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: ......../2022/HSST ngày 25/5/2022.

Đối với bị cáo: Bùi Đăng L, sinh năm 2000; HKTT: Thôn Phúc Lộc, xã Châu Phong, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh; Chỗ ở: Khu Lãm Làng, phường Vân Dương, thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh.

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC NINH

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo: Bùi Đăng L phạm tội “Cướp giật tài sản”.

Áp dụng khoản 1 Điều 171; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự:

Xử phạt: Bị cáo Bùi Đăng L ........(…………………….) ……… tù. Thời hạn tù tính từ ngày 12/01/2022./.

Cỡ chữ