- Tranh chấp gì? Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về tài sản — án dân sự — "T - N"
- Căn cứ chính? Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số quy đ…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOØA AÙN NHAÂN DAÂN HUYEÄN CAI LẬY, TỈNH TIỀN GIANG Soá: 110/2017/DS-ST | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Ngaøy: 15/9/2017 “V/v tranh chấp yêu cầu bồi thường thiệt hại về sức khỏe và tài sản bị xâm hại” |
NHAÂN DANH
NÖÔÙC COÄNG HOAØ XAÕ HOÄI CHUÛ NGHÓA VIEÄT NAM
TOØA AÙN NHAÂN DAÂN HUYEÄN CAI LẬY, TÆNH TIEÀN GIANG
Vôùi thaønh phaàn Hoäi ñoàng xeùt xöû sô thaåm goàm coù:
Thaåm phaùn - Chuû toïa phieân toøa: Bà LÊ TRẦN XUÂN VĂN
Caùc Hoäi thaåm nhaân daân: 1/ Bà ĐỒNG THỊ MƯỜI
2/ Ông NGUYỄN VĂN TƯ
Thö kyù Toøa aùn ghi bieân baûn phieân toøa: Ông NGUYỄN VĂN LUẬN – Thư ký Toøa aùn nhaân daân huyeän Cai Lậy, tænh Tieàn Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cai Lậy tham gia phiên toà: Ông NGUYỄN ĐỨC HÙNG - Kiểm sát viên.
Trong ngày 15 tháng 9 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cai Lậy xét xử sơ thẩm công khai theo thủ tục thông thường vụ án thụ lý số 95/2017/TLST-DS ngày 22 tháng 3 năm 2017 về tranh chấp yêu cầu bồi thường thiệt hại sức khỏe, tài sản bị xâm hại theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 151/2017/QĐXX-ST ngày 23 tháng 8 năm 2017 giữa các đương sự:
* Nguyeân ñôn: Ông NGUYỄN NGỌC T; sinh naêm 1970 (có mặt)
Địa chỉ: Buôn K, xã E, thành phố B, tỉnh Đak Lak
* Bò ñôn: 1/ Ông PHẠM VĂN N; sinh năm: 1968 (vắng mặt) Địa chỉ: Ấp B, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang
2/ Ông PHẠM TRẦN ĐĂNG K; sinh năm: 1982 (vắng mặt)
Địa chỉ: Ấp B, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang
* Người làm chứng: 1/ Ông NGUYỄN VĂN B, sinh năm: 1969 (có mặt)
2/ Anh LÊ MINH Đ; sinh năm: 1991 (có mặt)
Cùng địa chỉ: Ấp B, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Taïi ñôn khởi kiện ngaøy 22/3/2017, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay, nguyeân ñôn ông Nguyễn Ngọc T trình bày: Do có mâu thuẫn với nhau từ trước nên vào khoảng 17 giờ 30 phút, ngày 24/02/2017, trong lúc ông đang chơi ở nhà ông T1 thì ông Phạm Văn N và ông Phạm Trần Đăng K bất ngờ kéo đến gây sự đuổi đánh ông. Trong lúc đánh, ông N và ông K đã dùng tay đánh vào đầu, ngực và những vùng trọng yếu trên cơ thể làm ông ngất xỉu, được mọi người đưa đi cấp cứu. Hậu quả ông bị chấn thương đầu, phải điều trị tại bệnh viện. Ngoài ra, trong lúc bị ông N và ông K đuổi đánh, ông còn bị mất 02 điện thoại di dộng.
Nay ông T khởi kiện yêu cầu ông Phạm Văn N và ông Phạm Trần Đăng K phải cùng chịu trách nhiệm liên đới bồi thường cho ông chi phí điều trị bệnh và tài sản bị mất với tổng số tiền là 42.494.000 đồng cụ thể như sau:
- Chi phí khám chữa bệnh, tiền thuốc uống, xe đi lại: 15.678.000 đồng;
- Tiền thu nhập bị mất trong 10 ngày: 7.000.000 đồng;
- Chi phí người nuôi bệnh: 3.000.000 đồng;
- Tổn thất tinh thần do sức khỏe bị xâm hại: 5.000.000 đồng;
- Giá trị 02 chiếc điện thoại bị mất: 11.816.000 đồng.
* Tại bản tự khai ngày 10/4/2017, bị đơn ông Phạm Văn N trình bày: ông thừa nhận ngày 24/02/2017, giữa ông và ông T có xảy ra xô xát tại khu vực nhà ông T1. Tuy nhiên lỗi là do ông T trước đó có dùng lời lẽ thô tục chưởi bới ông. Do bức xúc nên khi gặp ông T, ông đã đuổi đánh ông T nhưng chỉ dùng tay đánh 01 cái nên ông nghĩ không gây thương tích gì. Đối với việc ông T khai mất 02 chiếc điện thoại di động trong lúc đánh nhau, ông N cho rằng lỗi không phải do ông gây ra. Nay ông T khởi kiện yêu cầu ông bồi thường tiền thuốc và giá trị 02 chiếc điện thoại bị mất ông không đồng ý.
* Tại bản tự khai ngày 10/4/2017, bị đơn ông Phạm Trần Đăng K trình bày: ông xác nhận ngày 24/02/2017 có xảy ra xô xát tại khu vực nhà ông T1. Lúc đó có ông, ông N và một số người khác. Tuy nhiên, ông không có tham gia đánh ông T nên không đồng ý bồi thường theo yêu cầu khởi kiện của ông T.
Tại phiên tòa, nguyên đơn ông T giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, bị đơn ông N, ông K có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cai Lậy tại phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân thủ pháp luật tố tụng và nội dung vụ án như sau:
- Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án, việc chấp hành pháp luật của các đương sự từ khi thụ lý đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng quy định tại các Điều 28, 68, 93, 94, 95, 96, 97, 195, 196, 203 của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Đối với nội dung vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo hướng: chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc ông Phạm Văn N và ông Phạm Trần Đăng K có trách nhiệm liên đới bồi thường thiệt hại cho ông T các chi phí hợp lý trong việc điều trị bệnh, phần thu nhập bị mất của người bị thiệt hại và người nuôi bệnh trong thời gian điều trị, thiệt hại về tổn thất tinh thần. Không chấp nhận yêu cầu bồi thường 02 chiếc điện thoại bị mất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được kiểm tra xem xét tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
Quan hệ tranh chấp giữa ông Nguyễn Ngọc T và ông Phạm Văn N, Phạm Trần Đăng K là quan hệ tranh chấp về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang theo quy định tại khoản 6 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự.
Đối với yêu cầu khởi kiện của ông T, Hội đồng xét xử xét thấy, theo lời khai của những người làm chứng là ông Nguyễn Văn B, anh Lê Minh Đ và các chứng cứ mà Tòa án thu thập được cho thấy: Vào ngày 24/02/2017, có xảy ra việc ông Phạm Văn N, Phạm Trần Đăng K đánh ông Nguyễn Văn B và ông Nguyễn Ngọc T. Hậu quả làm ông T, ông B bị chấn thương, ông N và ông K bị công an xã T, huyện C ra quyết định xử phạt hành chính về hành vi đánh nhau. Mặc dù ông K cho rằng không đánh ông T nên không đồng ý bồi thường nhưng theo lời khai của ông B, anh K (những người trực tiếp chứng kiến sự việc xảy ra) khẳng định ông N và ông K cùng có hành vi đánh ông T bị chấn thương, phải đưa đi cấp cứu. Như vậy, lỗi gây ra thương tích cho ông T hoàn toàn do hành vi trái pháp luật của ông N và ông K gây ra nên cả hai phải có trách nhiệm liên đới bồi thường cho ông T toàn bộ thiệt hại là phù hợp với quy định tại Điều 584, 585 Bộ luật dân sự.
Về mức bồi thường, xét thấy số tiền ông T yêu cầu tổng cộng 42.494.000 đồng là cao, có những khoản chi phí hợp lý, có những khoản không hợp lý nên cần được điều chỉnh lại. Cụ thể chi phí hợp lý như sau:
- Đối với tiền thuốc, tiền xe, tiền viện phí. Theo các tài liệu, chứng cứ ông T cung cấp trong quá trình giải quyết vụ án và lời khai taị phiên tòa hôm nay cho thấy, ngày 24/02/2017 ông bị ông N và ông K đánh gây thương tích được đưa đến trạm y tế sau đó chuyển lên bệnh viện tuyến trên. Đến ngày 27/02/2017 ông T xin chuyển lên bệnh viện Chợ Rẫy do bị đau đầu nhiều. Xét thấy, mặc dù ông T chuyển tuyến không theo chỉ định của bác sĩ nhưng mục đích cũng nhằm điều trị cho vết thương bị đánh gây nên. Vì vậy, yêu cầu của ông là phù hợp nên được chấp nhận. Căn cứ vào các hóa đơn, chứng từ hợp lệ, số tiền được tính như sau:
+ Điều trị tại Trạm y tế xã T là 720.000 đồng;
+ Điều trị tại Bệnh viện đa khoa trung tâm tỉnh Tiền Giang là 2.772.783 đồng;
+ Điều trị tại Bệnh viện Chợ Rẫy là 2.049.160 đồng;
+ Điều trị tại Bệnh viện chấn thương chỉnh hình Thành phố Hồ Chí Minh là 8.284.785 đồng.
- Đối với tiền mất thu nhập của người bệnh và người nuôi bệnh trong thời gian điều trị tại Bệnh viện. Xét thấy, ông T hiện đang trong độ tuổi lao động, có công việc làm ăn ổn định. Việc bị chấn thương nằm viện đã làm ảnh hưởng trực tiếp đến công việc làm ăn của ông. Tuy nhiên theo lời khai của ông T thì ông làm nghề buôn bán, mức thu nhập hàng tháng không ổn định, ông lại không chứng minh được số tiền thu nhập cụ thể hàng tháng của mình nên việc ông yêu cầu phía bị đơn bồi thường cho ông số tiền thu nhập bị mất và tiền của người chăm sóc trong thời gian nằm viện tổng cộng 10.000.000 đồng là quá cao, không hợp lý. Vì vậy, Hội đồng xét xử sẽ căn cứ theo mức thu nhập trung bình tại địa phương ngay thời điểm xét xử để đưa ra mức bồi thường cho phù hợp. Cụ thể là 250.000 đồng/ngày/người. Như vậy, tổng số tiền mất thu nhập của người bệnh và người nuôi bệnh là: (10 ngày x 250.000 đồng/người) x 2 người = 5.000.000 đồng.
- Về tiền tổn thất tinh thần, xét thấy, việc ông N, ông K đánh ông T cũng làm ảnh hưởng 01 phần đến công việc, uy tín làm ăn của ông. Vì vậy cần phải buộc ông N và ông K bồi thường cho ông một khoản chi phí hợp lý để bù đắp tổn thất do hành vi trái pháp luật của ông N và ông K gây ra. Tuy nhiên, ông T chỉ nằm viện điều trị trong khoảng thời gian ngắn (10 ngày) và thương tích nhẹ nên chỉ cần bù đắp tổn thất tinh thần bằng 02 tháng lương tối thiểu tại thời điểm xét xử tương đương với số tiền 2.600.000 là phù hợp.
Như vậy thiệt hại của ông T được xác định tổng cộng số tiền là 21.426.728 đồng. Buộc ông N, ông K phải có trách nhiệm bồi thường đủ cho ông T một lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật. Riêng các khoản chi phí khác không hợp lý nên không được chấp nhận.
- Đối với yêu cầu bồi thường giá trị tài sản bị mất là 02 chiếc điện thoại di động trị giá 11.816.000 đồng. Hội đồng xét xử xét thấy, theo nội dung các biên bản ghi lời khai của công an xã T (nơi sự việc xảy ra), lời khai của người làm chứng ông Nguyễn Văn B và anh Lê Minh Đ thì không xác định được tại thời điểm ông T bị đánh, ông có mang điện thoại theo trong người hay không. Ông T cũng khai không biết 02 chiếc điện thoại của mình bị mất trước hay sau khi bị đánh. Ông lại không có chứng cứ nào có giá trị chứng minh cho việc ông mất điện thoại xuất phát từ hành vi bị ông N, ông K đánh gây nên. Phía bị đơn ông N và anh K cũng không đồng ý bồi thường. Do đó yêu cầu của ông T là không có cơ sở nên không được chấp nhận.
Về án phí: Ông T, ông N và anh K phải chịu án phí theo quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xét ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của các đương sự và những người tham giá tố tụng khác từ khi thụ lý đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là có căn cứ nên chấp nhận.
Vì caùc leõ treân,
QUYEÁT ÑÒNH:
AÙp duïng các Ñieàu 584, 585, 589, 590 Boä luaät Daân söï;
Áp dụng các Điều 27, 147, 228, 229 Bộ luật tố tụng dân sự;
Áp dụng Nghị quyết 03/2006/NQ-HĐTP ngày 08/7/2006 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối Cao;
Áp dụng khoản 1 Điều 27 nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xöû:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Ngọc T. Buộc ông Phạm Văn N và ông Phạm Trần Đăng K phải cùng có trách nhiệm liên đới bồi thường cho ông Nguyễn Ngọc T thiệt hại về sức khỏe số tiền là 21.426.728 đồng. Bồi thường một lần ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật.
2. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Ngọc T về việc buộc ông Phạm Văn N và ông Phạm Trần Đăng K phải cùng liên đới bồi thường thiệt hại sức khỏe số tiền 9.251.272 đồng.
3. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Nguyễn Ngọc Thành về việc buộc ông Phạm Văn Nvà ông Phạm Trần Đăng Kphải cùng liên đới bồi thường thiệt hại về tài sản số tiền 11.816.000 đồng.
Kể từ ngày ông Nguyễn Ngọc T có đơn yêu cầu thi hành án, nếu ông Phạm Văn N và ông Phạm Trần Đăng K chậm thực hiện nghĩa vụ trả nợ thì còn phải chịu thêm tiền lãi theo quy định tại Khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự 2015.
4. Veà aùn phí:
- Ông Phạm Văn N và anh Phạm Trần Đăng K phải cùng chịu 1.071.336 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
- Ông Nguyễn Ngọc T phải chịu 590.800 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Ông đã nộp 295.400 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 14262 ngày 22/3/2014 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cai lậy nên phải nộp tiếp 295.400 đồng.
Ông T có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử phúc thẩm.
Ông N, ông K có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể tự ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc niêm yết công khai để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử phúc thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự. Nôi nhaän:
| - TAND tỉnh Tiền Giang; - VKSND huyện C; - CCTHA DS huyện C; - Các đương sự; - Lưu. | TM. HOÄI ÑOÀNG XEÙT XÖÛ SÔ THAÅM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Lê Trần Xuân Văn |