- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Nguyễn Ngọc Lan N - anh Lê Duy P1."
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Ngọc Lan N.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 – VĨNH LONG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 110/2025/HNGĐ–ST Ngày: 25-12-2025 V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 – VĨNH LONG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đinh Thị Kim Ngân
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Văn Hiền
2. Bà Mai Thị Nhặc
- Thư ký phiên toà: Bà Lê Thị Sương – Thư ký Toà án nhân dân khu vực 9
- Vĩnh Long.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 – Vĩnh Long tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Xuân Hoàng - Kiểm sát viên.
Trong ngày 25 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 9 – Vĩnh Long xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 220/2025/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 10 năm 2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 101/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 17 tháng 11 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên toà số 66A/2025/QĐST-DS ngày 27 tháng 11 năm 2025 giữa các đương sự:
1/ Nguyên đơn: Chị Nguyễn Ngọc Lan N, sinh năm 1997; Nơi cư trú: Số 4/47/1 Đường 6, phường L, Thành phố Hồ Chí Minh. Địa chỉ liên lạc: Số 97/18 Đường 22, Khu phố 13, phường P, Thành phố Hồ Chí Minh. (Xin vắng mặt)
2/ Bị đơn: Anh Lê Duy P1, sinh năm 1996; Nơi cư trú: Ấp H, xã Đ, tỉnh Vĩnh Long. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, lời khai trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, nguyên đơn chị Nguyễn Ngọc Lan N trình bày:
Chị và anh Lê Duy P1 do quen biết, tìm hiểu nhau rồi tiến đến hôn nhân, anh chị tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường L, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh vào ngày 23 tháng 10 năm 2018 và đã được cấp giấy chứng nhận kết hôn theo quy định. Trong thời gian chung sống giữa vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, bất đồng quan điểm, thường xuyên cự cãi dẫn đến hôn nhân không hạnh phúc. Chị và anh P1 đã sống ly thân khoảng năm năm và không thể hàn gắn. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, không thể tiếp tục chung sống với anh P1 được nữa nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn.
Về con chung: Chị và anh P1 có một con chung họ tên là Lê Nguyễn Như Q, sinh ngày 02 tháng 05 năm 2019, hiện con chung đang sống với chị. Chị yêu cầu sau khi ly hôn con chung giao cho chị trực tiếp nuôi, chị không yêu cầu anh P1 cấp dưỡng cho con.
Về tài sản chung: Chị và anh P1 tự thoả thuận, không yêu cầu giải quyết chia tài sản. Về nợ chung: Chị và anh P1 không có nợ chung, không yêu cầu giải quyết nợ chung.
Bị đơn anh Lê Duy P1 vắng mặt trong giai đoạn chuẩn bị xét xử và tại phiên toà nên không có lời trình bày, không gửi văn bản nêu ý kiến và tài liệu, chứng cứ cho Toà án xem xét.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 – Vĩnh Long trình bày quan điểm như sau:
Trong thời gian chuẩn bị xét xử, Thẩm phán thực hiện các thủ tục tố tụng đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện Nệm vụ, quyền hạn đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn thực hiện quyền và nghĩa vụ đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, bị đơn chấp hành chưa đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về việc giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 28, 147, 235 và Điều 235 và Điều 266 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; các Điều 56, 58, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí tòa án: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Ngọc Lan N.
- Về hôn nhân: Chị Nguyễn Ngọc Lan N được ly hôn với anh Lê Duy P1.
- Về con chung: Giao con chung cháu Lê Nguyễn Như Q, sinh ngày 02/5/2019 cho chị Nguyễn Ngọc Lan N tiếp tục nuôi dưỡng. Anh Lê Duy P1 không phải cấp dưỡng nuôi con do chị N không có yêu cầu.
- Về tài sản chung: Không yêu cầu giải quyết nên không xem xét giải quyết.
- Về nợ chung: Không có, nên không xem xét giải quyết.
- Về án phí hôn nhân sơ thẩm là 300.000 đồng chị Nguyễn Ngọc Lan N phải nộp nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0004575, ngày 07/10/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Vĩnh Long.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
Nguyên đơn chị Nguyễn Ngọc Lan N khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết ly hôn, giải quyết việc nuôi con chung với bị đơn anh Lê Duy P1 nên xác định quan hệ pháp luật của vụ án là tranh chấp về hôn nhân và gia đình, cụ thể là về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Chị N cho rằng giữa chị và anh P1 không còn tình cảm vợ chồng, hôn nhân không hạnh phúc nên chị có quyền khởi kiện yêu cầu giải quyết ly hôn theo quy định tại khoản 1 Điều 51 Luật hôn nhân và gia đình, khoản 2 Điều 68 và Điều 186 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Anh P1 có nơi cư trú tại ấp H, xã Đ, tỉnh Vĩnh Long. Căn cứ vào quan hệ pháp luật tranh chấp và nơi cư trú của bị đơn xác định vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân khu vực 9 – Vĩnh Long theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Chị N có yêu cầu xét xử vắng mặt nên căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt chị N. Anh P1 đã được Toà án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên toà đến lần thứ hai nhưng vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hay trở ngại khách quan nên căn cứ khoản 1 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh P1.
Xét yêu cầu ly hôn của chị N, Hội đồng xét xử nhận định: Chị N và anh P1 kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường L, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh vào ngày 23 tháng 10 năm 2018 và đã được cấp giấy chứng nhận kết hôn theo quy định. Do đó, hôn nhân của chị N và anh P1 là hợp pháp, được pháp luật công nhận. Chị N cho rằng sau kết hôn vợ chồng chung sống phát sinh Nều mâu thuẫn, bất đồng quan điểm, thường xuyên cự cãi, không có tiếng nói chung dẫn đến hôn nhân không hạnh phúc. Vợ chồng đã sống ly thân khoảng năm năm cho đến nay. Quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã tống đạt thông báo về việc thụ lý vụ án và mời anh P1 đến Toà tham gia hoà giải với chị N nhưng anh P1 không đến và cũng không gửi văn bản nêu ý kiến hay phản đối yêu cầu ly hôn của chị N. Từ các cơ sở trên cho thấy tình trạng hôn nhân của chị N và anh P1 đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận cho chị N ly hôn với anh P1 là phù hợp.
Xét về con chung: Chị N và anh P1 có một con chung họ tên là Lê Nguyễn Như Q, sinh ngày 02 tháng 05 năm 2019. Chị N yêu cầu sau khi ly hôn con chung giao cho chị trực tiếp nuôi, chị không yêu cầu anh P1 cấp dưỡng cho con. Hội đồng xét xử xét thấy con chung đang còn nhỏ và sống ổn định với chị N, anh P1 không đưa ra yêu cầu được trực tiếp nuôi con. Do đó, nhằm đảm bảo cho việc chăm sóc, nuôi dưỡng, tránh xáo trộn về tâm sinh lý cho con chung, Hội đồng xét xử chấp nhận giao con chung cho chị N trực tiếp nuôi. Chị N không yêu cầu anh P1 cấp dưỡng cho con là ý chí tự nguyện của chị nên ghi nhận.
Xét về tài sản chung: Chị N trình bày tự thoả thuận với anh P1, không yêu cầu giải quyết chia tài sản, anh P1 không đưa ra yêu cầu chia tài sản. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Xét về nợ chung: Chị N trình bày chị và anh P1 không có nợ chung, không yêu cầu giải quyết nợ chung. Anh P1 không đưa ra yêu cầu giải quyết nợ chung. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Xét về án phí: Chị N có nghĩa vụ chịu án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch đối với yêu cầu ly hôn theo quy định pháp luật.
Xét quan điểm giải quyết vụ án của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 – Vĩnh Long là phù hợp với các nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các điều 56, 58, 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ vào các điều 147, 227, 228, 271 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Ngọc Lan N.
Về hôn nhân: Chị Nguyễn Ngọc Lan N được ly hôn với anh Lê Duy P1.
Về con chung: Chị N và anh P1 có một con chung họ tên là Lê Nguyễn Như Q, sinh ngày 02 tháng 05 năm 2019, hiện con chung đang sống với chị N. Sau khi ly hôn, con chung giao cho chị N trực tiếp nuôi. Ghi nhận chị N không yêu cầu anh P1 cấp dưỡng cho con.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được pháp luật quy định, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.
Cha, mẹ trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu người không trực tiếp nuôi con cấp dưỡng cho con. Khi có lý do chính đáng, mức cấp dưỡng có thể thay đổi. Việc thay đổi mức cấp dưỡng do các bên thỏa thuận, nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung: Chị N và anh P1 không yêu cầu giải quyết chia tài sản nên không giải quyết.
Về nợ chung: Chị N trình bày không có nợ chung, anh P1 không đưa ra yêu cầu giải quyết nợ chung nên không giải quyết.
Về án phí: Chị N có nghĩa vụ chịu là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004575 ngày 07 tháng 10 năm 2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Vĩnh Long.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - Đương sự (2b); - VKSND khu vực 9 – Vĩnh Long (1b); - VKSND tỉnh Vĩnh Long (1b); - THADS tỉnh Vĩnh Long (1b); - Cơ quan ĐKKH (1b); - TAND tỉnh Vĩnh Long (1b); - Lưu hồ sơ vụ án, văn phòng (3b). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký và đóng dấu) Đinh Thị Kim Ngân |