- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Hoàng Duy - phạm tội cướp giật tài sản (điều 171 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hoàng D phạm Tội cướp giật tài sản.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 171 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH BÌNH DƯƠNG —————————— Bản án số: 110/2023/HS-ST Ngày 25 - 4 -2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Trần Thị Hà
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Đức Lợi;
2. Ông Từ Anh Tuấn.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Hoài Phương, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Đặng Thị Huyền, Kiểm sát viên.
Trong ngày 25 tháng 4 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 88/2023/TLST-HS ngày 16 tháng 3 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 117/2023/QĐXXST-HS ngày 13/4/2023 đối với bị cáo:
Nguyễn Hoàng D, sinh năm 1996 tại tỉnh Bến Tre; Nơi cư trú: ấp Hưng P, xã Hưng Ph, huyện Giồng T, tỉnh Bến Tre; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh, giới tính: nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1969 và bà Huỳnh Thị Thu T, sinh năm 1973; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị bắt, tam giam ngày 05/12/2022, có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Chị Kiều Thị Cẩm V, sinh năm 2004; thường trú: tổ 8, ấp Thanh , xã Thanh L, huyện B, tỉnh Bình Phước, có yêu cầu giải quyết vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 14 giờ 00 phút ngày 04/12/2022, D đi bộ từ cầu vượt Sóng Thần tại phường Dĩ An, thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương đến trạm chờ xe buýt khu Đại học Quốc Gia, khu phố Tân Hòa, phường Đông Hòa, thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương phát hiện chị Kiều Thị Cẩm V đang ngồi chờ xe buýt, trên tay chị V đang cầm 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 13 Promax, màu xanh xám. Thấy vậy, D nhanh chóng tiếp cận chị V rồi dùng tay phải giật lấy điện thoại, sau đó, chạy bộ vào rừng cây đối diện cổng ký túc xá khu B, Đại học Quốc Gia, thuộc khu phố Tân Hòa, phường Đông Hòa, thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương để trốn. Đến 02 giờ 00 phút ngày 05/12/2022 D đi ra khỏi nơi lẫn trốn rồi đi bộ ra tuyến đường Quốc lộ 1K, thuộc khu phố Tân Hòa, phường Đông Hòa, thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương trên đường đi D vào nằm ngủ trước nhà dân đến sáng cùng ngày và tiếp tục đi bộ trên đường tìm cửa hàng để bán điện thoại thì chị V định vị, vị trí và báo Công an phường Đông Hòa, thành phố Dĩ An bắt giữ D, thu giữ tang vật và bàn giao cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Dĩ An điều tra theo thẩm quyền. Qua quá trình điều tra D khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Vật chứng thu giữ: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Promax, màu xám xanh.
Kết luận định giá tài sản số: 192/BBĐG-HĐĐGTS ngày 28/12/2022, của Hội đồng định giả tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự thành phố Dĩ An kết luận:
- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Promax, màu xám xanh trị giá 18.500.000 đồng.
Tại cáo trạng số 118/CT-VKS ngày 16 tháng 03 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Nguyễn Hoàng D về Cướp giật tài sản theo khoản 1 Điều 171 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi năm 2017. Tại phiên tòa, trong phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 171, điểm s khoản 1, Điều 51; Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng D mức án từ 18 (mười tám) đến 24 (hai mươi bốn) tháng tù.
Về xử lý vật chứng:
Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Promax, màu xám xanh đã thu hồi trả lại cho bị hại, bị hại không có yêu cầu gì khác nên về trách nhiệm dân sự Viện kiểm sát không đề nghị giải quyết.
Trong quá trình điều tra bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng đã truy tố, tại phiên tòa bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Dĩ An, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra bị cáo, không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Đối với bị hại có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt. Căn cứ vào Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự, Tòa án xét xử vắng mặt bị hại là đúng theo quy định của pháp luật.
Về căn cứ xác định hành vi phạm tội của bị cáo:
Khoảng 15 giờ 00 phút ngày 04/12/2022, tại trạm chờ xe buýt thuộc khu Đại học Quốc Gia, khu phố Tân Hòa, phường Đông Hòa, thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương bị cáo Nguyễn Hoàng D đã nhanh chóng cướp giật điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Promax, màu xanh xám trên tay chị Kiều Thị Cẩm V, sau khi đoạt được tài sản từ tay chị V, D nhanh chóng tẩu thoát vào rừng cây đối diện cổng ký túc xá khu B, Đại học Quốc Gia để lẫn trốn. Hành vi của bị cáo Nguyễn Hoàng D đã đủ yếu tố cấu thành Tội cướp giật tài sản theo khoản 1 Điều 171 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng số 118/CT-VKS ngày 16 tháng 03 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương và luận tội của Kiểm sát viên đề nghị đối với bị cáo là có căn cứ, đảm bảo đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Tính chất, mức độ của hành vi: tội phạm do bị cáo thực hiện là nghiêm trọng đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của bị hại được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự nhận thức rõ hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật, nhưng vẫn cố ý thực hiện. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ tội phạm đã thực hiện, có xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo đủ để giáo dục, cải tạo bị cáo và có tác dụng đấu tranh phòng ngừa chung.
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo không có.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: trong quá trình điều tra bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tài sản đã thu hồi trả lại cho bị hại là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Hội đồng xét xử sẽ xem xét để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo thể hiện sự khoan hồng của pháp luật đối với người phạm tội.
Về nhân thân: Bị cáo là người không có nghề nghiệp.
Xét bị cáo phạm tội nghiêm trọng, vì vậy cần thiết áp dụng hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để bị cáo có cơ hội sửa đổi bản thân, làm người công dân tốt, sống có ích cho gia đình và xã hội.
Xử lý vật chứng: Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Promax, màu xám xanh đã thu hồi trả lại cho bị hại, bị hại không có yêu cầu gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An về hình phạt đối với bị cáo là phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Án phí sơ thẩm: Bị cáo phải nộp theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hoàng D phạm Tội cướp giật tài sản.
Áp dụng khoản 1 Điều 171, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng D 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 05 tháng 12 năm 2022.
2. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 135 Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khoá 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Bị cáo Nguyễn Hoàng D phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
3. Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày Bản án được tống đạt hợp lệ./.
| Nơi nhận: - Bị cáo (01); - VKSND thành phố Dĩ An (01); - Công an thành phố Dĩ An (02); - Trại tạm giam CA tỉnh Bình Dương (01); - Chi cục THADS thành phố Dĩ An (01); - TAND tỉnh Bình Dương (01); - Sở tư pháp tỉnh Bình Dương (01); - UBND cấp xã nơi bị cáo cư trú (01); - Phòng PV 06 CA tỉnh BD (01); - Phòng PC 10 CA tỉnh BD (01); - Lưu văn thư, hồ sơ vụ án (02). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Hà |