vanban.org

Bản án 110/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Vinh, tỉnh Nghệ An Tuyên án 28/04/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu 200.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An. Người bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc tống đạt hợp lệ./. VKSND TP Vinh Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Chu Văn Trung - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu 200.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN THÀNH PHỐ VINH
TỈNH NGHỆ AN
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 110/ 2023/HS-ST
Ngày: 28/04/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Hải Yến

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Quốc Đấu – Ông Nguyễn Công Thẩm

Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Minh

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Nguyên - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 04 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 106/2023/TLST-HS ngày 06 tháng 04 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 114/2023/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 04 năm 2023 đối với bị cáo :

Họ và tên: Chu Văn T - Sinh ngày 01/02/1965; Nơi ĐKNKTT và trú tại: xóm K , xã H , thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: không; trình độ văn hoá: 7/10; Dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông: Chu Văn V và bà Đinh Thị N ; Anh, chị, em ruột: có 3 người, bị cáo là con thứ 3; Tiền án: không; Tiền sự: Ngày 16/12/2022 bị Công an thị xã H , tỉnh H ra Quyết định xử phạt hành chính số 154/QĐ-XPHC xử phạt 2.500.000 đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản” (thi hành xong ngày 26/12/2022).

Nhân thân: Ngày 07/01/2019 bị Công an xã H , thành phố V , tỉnh Nghệ An ra Quyết định xử phạt hành chính số 03/QĐ-XPHC xử phạt 1.000.000 đồng về hành vi “ Đánh bạc” (thi hành xong ngày 08/01/2019).

Bị bắt, tạm giữ, tạm giam: từ ngày 22/02/2023 đến nay, có mặt tại phiên tòa.

Người bị hại: Anh Lương Văn H - sinh năm 1992 (vắng mặt)

Địa chỉ: Bản H xã H , huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do không có tiền tiêu xài nên Chu Văn T nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. Đến 13 giờ 30 phút, ngày 22/02/2023 Chu Văn T đi đến Bệnh viện Chấn thương chỉnh Hình Nghệ An thuộc khối X , phường H để trộm cắp tài sản. Khi đi qua phòng bệnh số 1110, khoa phục hồi chức năng Chu Văn T nhìn thấy phòng bệnh mở cửa trong phòng có một người đàn ông (anh Lương Văn H ) và hai người phụ nữ đang ngủ. Trên đầu giường bệnh phía bên trái có để 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Sam Sung Galaxy Note 8, màu đen. Quan sát xung quanh không có ai nên T lén lút vào phòng bệnh, đi đến đầu giường dùng tay phải lấy trộm máy điện thoại di động rồi đi ra khỏi phòng, khi ra đến cửa phòng thì bị anh Lương Văn H phát hiện hô hoán, truy đuổi. Chu Văn T vứt chiếc điện thoại cách cửa phòng bệnh khoảng 2 mét rồi bỏ chạy về hướng bên phải. Chạy được khoảng 15 mét thì bị anh H và tổ công tác Công an phường Hưng Dũng bắt quả tang.

Tại kết luận định giá tài sản số 25/KL-ĐGTS ngày 28/02/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An kết luận : “ 01 chiếc điện thoại di Sam Sung Galaxy Note 8, 64GB màu đen, ốp màu nâu đã qua sử dụng có số seri R58M345TBGM, số IMEI1: 355731099773641, số IMEI2: 3557320997736649 tại thời điểm ngày 22/02/2023 có giá trị là 2.500.000 đồng (hai triệu năm trăm ngàn đồng).

Cáo trạng số 133/CT-VKS -TPV ngày 06/04/2023 của Viện kiểm sát nhân dân TP.Vinh truy tố Chu Văn T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 điều 173 BLHS.

Tại phiên tòa hôm nay đại diện VKS vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị căn cứ khoản 1 điều 173; điểm i, s, x khoản 1 điều 51 BLHS; điều 136 BLTTHS; điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí xử phạt bị cáo Chu Văn T từ 07 tháng đến 09 tháng tù. Buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định pháp luật. Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.

Tại phiên tòa bị cáo cũng không có ý kiến tranh luận gì chỉ đề nghị HĐXX xem xét mức hình phạt thấp nhất và tạo điều kiện cho bị cáo cải tạo trở thành người có ích cho xã hội.

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu tài được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo, người bị hại…

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thành phố Vinh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Về nội dung: Tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ cơ sở để kết luận vào khoảng 13 giờ 30 phút, ngày 22/02/2023, tại phòng bệnh số 1110 khoa phục hồi chức năng Bệnh Viện Chấn thương chỉnh hình Nghệ An thuộc khối X , phường H , thành phố Vinh, Nghệ An Chu Văn T có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 điện thoại di động Sam Sung Galaxy Note 8, 64GB màu đen, ốp màu nâu của anh Lương Văn H trị giá 2.500.000 đồng. Hành vi mà Chu Văn T thực hiện đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điều 173 BLHS.

Vụ án thuộc loại ít nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là liều lĩnh và nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, gây mất trật tự công cộng, an toàn xã hội tại địa phương. Bản thân bị cáo đã bị xử phạt hành chính về hành vi Trộm cắp tài sản nhưng không lấy đó làm bài học tu dưỡng bản thân mà phạm tội. Bị cáo phạm tội tuy không thuộc thuộc trường hợp tái phạm nhưng có tiền sự thể hiện nhân thân xấu nên cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian là cần thiết để cải giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội. Tuy nhiên, cũng cần xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần vì phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, bị cáo là con liệt sỹ nên xử bị cáo mức hình phạt như đề nghị của đại diện VKS tại phiên tòa là đủ nghiêm, để tạo điều kiện cho bị cáo cải tạo trở thành người tốt, có ích cho xã hội và thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

Đối với loại tội này ngoài hình phạt chính còn có hình phạt bổ sung là phạt tiền. Xét bị cáo có hoàn cảnh khó khăn nên miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Về dân sự: Quá trình điều tra cơ quan Công an đã trả lại tài sản cho người bị hại. Người bị hại không có yêu cầu gì nên miễn xét.

Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 điều 173; điểm i, s, x khoản 1 điều 51 BLHS; điều 136 BLTTHS; điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí xử phạt: bị cáo Chu Văn T 07 (bảy) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 22/02/2023.

Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí HSST.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An. Người bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc tống đạt hợp lệ./.

Cỡ chữ