- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lý Thị L - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lý Thị L phạm tội “Trộm cắp tài sản”;
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN TRE TỈNH BẾN TRE | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:110/2023/HS-ST Ngày: 19/12/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN TRE, TỈNH BẾN TRE
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Văn Trình
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trần Văn Hưng
2. Ông Trần Văn Hổ
-Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Vương - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Minh Thư – Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 12 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 99/2023/TLST-HS ngày 30/10/2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 102/2023/QĐXXST-HS ngày 17/11/2023 đối với bị cáo:
Lý Thị L, sinh năm 1981 tại tỉnh Bến Tre; nơi cư trú: số C, khu phố C, phường H, thành phố B, tỉnh Bến Tre; trình độ văn hóa: 12/12; nghề nghiệp: không; dân tộc: Kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lý Quốc O, sinh năm: 1955 (đã chết) và bà Lý Thị L1, sinh năm 1955; chồng: Phạm Ngọc N, sinh năm: 1981; con: có 01 người con sinh năm 2018; tiền án: không; tiền sự: không; nhân thân: ngày 08/8/2003 bị Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre xử phạt 09 năm tù, về tội: "Mua bán trái phép chất ma túy". (Bản án số 134/HS-ST, chấp hành xong ngày 06/02/2009); ngày 19/5/2011 Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre xử phạt 03 năm 06 tháng tù, về tội: "Vận chuyển trái phép chất ma túy". (Bản án số 24/2011/HSST, chấp hành xong ngày 22/01/2014); ngày 30/01/2011 bị Công an P1, thị xã B (nay là phường A, thành phố B) xử phạt hành chính số tiền 750.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy Quyết định số 24/QĐ-XPHC, chưa đóng phạt). Bị cáo bị cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 28/8/2023, đến ngày 02/12/2023 bị bắt tạm giam cho đến nay, có mặt.
- Bị hại: Nguyễn Thái P, sinh năm 1976; nơi cư trú: số C, khu phố C, phường G, thành phố B, tỉnh Bến Tre. Vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 04 giờ 30 phút ngày 27/4/2023, Lý Thị L đi bộ từ Chợ B ở khu phố D, phường A về nhà của L ở Số C, khu phố C, phường H, thành phố B, tỉnh Bến Tre, khi đến ngã tư giao nhau giữa đường N và đường L ở khu phố D, phường A, thành phố B L thấy xe mô tô nhãn hiệu: Yamaha, số loại: Sirius, màu sơn: xanh đen, biển số 71B3-941.88 của anh Nguyễn Thái P, sinh năm: 1976, nơi cư trú: Số C, khu phố C, Phường G, thành phố B dựng sát lề đường Lê L2, chìa khoá xe còn cắm trên xe nên L nảy sinh ý định lấy trộm. L lại vị trí đậu xe, ngồi lên xe, khởi động và điều khiển xe chạy về hướng đường H để tẩu thoát. Khi L điều khiển xe đến khu vực ngã tư N địa phận phường A, thành phố B thì bị người dân giữ lại đưa về Công an phường A làm việc.
Vật chứng thu giữ: 01 xe mô tô, nhãn hiệu: Yamaha, số loại: Sirius, màu sơn: xanh đen. Số máy: E3X9E626924; số khung: 3220KY127822; biển số 71B3-941.88; 01 Giấy đăng ký xe số 207475, tên chủ xe Đỗ Thị Kim C.
Tại Kết luận định giá tài sản số 338/KL-HĐĐG ngày 22/5/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố B kết luận: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu: Yamaha, số loại: Sirius, màu sơn: xanh đen. Số máy: E3X9E626924; Số khung: 3220KY127822; Biển số: 71B3-941.88 đã qua sử dụng, trị giá tài sản ngày 27/4/2023 là 6.500.000 đồng.
Quá trình điều tra, Lý Thị L đã khai nhận hành vi phạm tội phù hợp lời khai bị hại, vật chứng thu giữ và các chứng cứ khác do Cơ quan điều tra thu thập được.
Về xử lý vật chứng: ngày 25/8/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã trao trả cho ông Nguyễn Thái P 01 xe mô tô, nhãn hiệu: Yamaha, số loại: Sirius, màu sơn: xanh đen; số máy: E3X9E626924; số khung: 3220KY127822; biển số: 71B3-941.88 đã qua sử dụng. Về trách nhiệm dân sự: bị hại Nguyễn Thái P đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu bị cáo bồi thường gì khác.
Tại cáo trạng số 99/CT-VKSTPBT ngày 30/10/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Tre đã truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
Kiểm sát viên giữ nguyên nội dung cáo trạng và đề nghị: Về hình phạt chính: áp dụng: khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự: xử phạt bị cáo từ 09 tháng đến 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Về hình phạt bổ sung: đề nghị không áp dụng. Về xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự: Ghi nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã trao trả cho ông Nguyễn Thái P 01 xe mô tô, nhãn hiệu: Yamaha, số loại: Sirius, màu sơn: xanh đen; Số máy: E3X9E626924; Số khung: 3220KY127822; Biển số: 71B3-941.88. Anh P không yêu cầu bồi thường gì thêm.
Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như cáo trạng đã truy tố. Bị cáo không khiếu nại các hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng.
Bị cáo nói lời nói sau cùng: bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra công an thành phố B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Tre, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Bị hại vắng mặt tại phiên tòa trong quá trình điều tra, họ đã có lời khai đầy đủ, rõ ràng, sự vắng mặt của họ không làm ảnh hưởng đến việc xét xử nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt họ là phù hợp quy định tại Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của người tham gia tố tụng và các tài liệu chứng cứ khác đã được thu thập trong quá trình điều tra, đủ cơ sở xác định: khoảng 04 giờ 30 phút ngày 27/4/2023, tại khu vực đường L địa phận phường A, thành phố B Lý Thị L đã có hành vi lén lút chiếm đoạt của anh Nguyễn Thái P 01 xe mô tô trị giá 6.500.000 đồng.
Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, bị cáo nhận biết rõ hành vi của mình bị pháp luật cấm nhưng xuất phát từ động cơ tư lợi bất chính, bị cáo đã một mình cố ý lén lút chiếm đoạt tài sản của bị hại, giá trị tài sản chiếm đoạt 6.500.000 đồng. Vì vậy, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Tre đã truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng luật định.
Bị cáo phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, lợi dụng chủ sở hữu thiếu cảnh giác trong việc quản lý tài sản đã thực hiện hành vi phạm tội, trực tiếp xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn. Khi bị cáo thực hiện tội phạm đã gây ra tâm lý lo sợ cho quần chúng nhân dân trong lao động, trong sinh hoạt hàng ngày.
Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo có nhân thân xấu, mặc dù bị cáo không có tiền án, tiền sự nhưng bị cáo đã nhiều lần bị kết án và bị xử phạt vi phạm hành chính. Về tình tiết tặng nặng trách nhiệm hình sự bị cáo không có. Bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ: “Phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn”, “Người phạm tội thành khẩn khai báo”, “Đang nuôi con nhỏ” theo quy định tại các điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Căn cứ vào nhân thân, tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi bị cáo gây ra, xét thấy cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội và có tác dụng phòng ngừa chung.
Về hình phạt bổ sung: do bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự: Ghi nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã trao trả cho ông Nguyễn Thái P 01 xe mô tô, nhãn hiệu: Yamaha, số loại: Sirius, màu sơn: xanh đen; số máy: E3X9E626924; số khung: 3220KY127822; biển số: 71B3-941.88. Anh P không yêu cầu bồi thường gì thêm.
Lời phát biểu luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa về tội danh, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, hình phạt, xử lý vật chứng và các biện pháp tư pháp là phù hợp nên được chấp nhận.
Về án phí hình sự sơ thẩm bị cáo phải nộp theo quy định của Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự; Điều 23Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Lý Thị L phạm tội “Trộm cắp tài sản”;
1. Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Lý Thị L 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 02/12/2023.
2. Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự; Điều 23Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án: Án phí hình sự sơ thẩm bị cáo Lý Thị L phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng.
4. Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bến Tre (1b); - VKSND tỉnh Bến Tre (1b); - VKSND thành phố Bến Tre (1b); - Cơ quan điều tra CATP Bến Tre (1b); - Cơ quan THAHS CATP Bến Tre (1b); - Chi cục THA dân sự thành phố Bến Tre (1b); - Sở Tư pháp tỉnh Bến Tre (1b); - UBND P.8, TP.BT (1b); - Bị cáo, Bị hại (2b); - Bộ phận thi hành án Hình sự (3b); - Lưu (văn phòng, hồ sơ vụ án) (2b). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Ngô Văn Trình |