vanban.org

Bản án 110/2023/HS-ST — Hình sự

TAND Quận 7, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 11/08/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Phạm Anh T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Phạm Anh T 01 (một) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 (hai) năm tính từ ngày tuyên án. Giao bị cáo Phạm Anh T cho Ủy ban nhân dân thị trấn N, huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh để giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách; trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư tr… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "bị cáo Phạm Anh T phạm tội “Trộm cắp tài sản” - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phạm Anh T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 110/2023/HS-ST
Ngày: 11-8-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Thuần Phong

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Trương Thị Đạt;

2. Bà Lê Thị Quỳnh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương Thúy - Thư ký Toà án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Hồng Gấm - Kiểm sát viên.

Trong ngày 11 tháng 8 năm 2023 tại Phòng xử án Tòa án nhân dân Quận 7 xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 140/2023/HSST ngày 14 tháng 07 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 137/2023/QĐXXST-HS ngày 18/7/2023 đối với bị cáo họ và tên:

Phạm Anh T, tên gọi khác: /; giới tính: N, sinh năm 1987 tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Số A C, Phường N, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; nơi cư trú: Số A H, thị trấn N, huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; nghề nghiệp: Chạy xe ôm; trình độ học vấn: Lớp 10/12; con ông Phạm Hùng C (đã chết) và bà Nguyễn Thị Lệ T1 (đã chết); hoàn cảnh gia đình: Có vợ (bỏ đi từ năm 2011), hiện đang trực tiếp nuôi con sinh năm 2011; tiền án, tiền sự: Không; về nhân thân: Bản án số 373/HSST ngày 28/11/2005, Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh xử 01 năm 6 tháng tù về tội Cướp giật tài sản; Bản án số 216/HSST ngày 31/7/2008, Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh xử 02 năm 6 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản; Bản án số 67/HSST ngày 22/04/2013, Tòa án nhân dân Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh xử 07 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy (chấp hành xong hình phạt tù ngày 31/8/2017, thi hành xong phần án phí và nghĩa vụ dân sự ngày 10/6/2013). Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú ngày 10/4/2023. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: Bà Nguyễn Phương T2, sinh năm 1997; địa chỉ: 2 chung cư S, số B N, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Bà Ngô Thị Huỳnh N1, sinh năm 1991, địa chỉ: Ấp B, xã B, huyện C, tỉnh An Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 14 giờ ngày 24/03/2023, Phạm Anh T đi xe máy đến chung cư S, địa chỉ: B N, phường T, Quận G, chơi với bạn tại phòng 33.01 Block X1. Khoảng 19 giờ 30 phút cùng ngày, T xuống hầm B1 của tòa nhà lấy xe máy đi về. Khi đó, T thấy xe máy Honda Vision, biển số 37B3-167.67 của chị Nguyễn Phương T2 mở, bên trong có một balo màu đen, thấy không có người trông coi, liền nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. T dắt xe máy Honda Vision, BKS: 93P2-588.08 của mình đến ngang với xe của chị T2, lén lút lấy chiếc balo. T treo ba lô vừa lấy được lên xe máy của mình, chạy ra ngoài. T chạy đến Cầu P, Quận G, mở balo, thấy bên trong có một laptop Macbook Air và một Aripods, 500.000 đồng, 01 căn cước công dân mang tên Nguyễn Phương T2, 01 giấy phép lái xe hạng A1, B2 mang tên Nguyễn Phương T2. Các tài sản T đem về nhà cất giữ. Bị mất trộm tài sản, bị hại đến Công an trình báo. Qua truy xét, Công an đã triệu tập Phạm Anh T làm rõ, xử lý.

Kết luận định giá tài sản số 113/KL-HĐĐGTTHS ngày 10/4/2023 của Hội đồng Định giá tài sản Tố tụng hình sự Quận G, kết luận: “01 Macbook Air 13 inch, model A1932, core i5. Ram 8Gb, số seri: C02YV4H3JK77 đã qua sử dụng có giá trị 8.170.000 đồng; 01 tai nghe Airpod Model A2031, số seri GWHZJ6QGJMMT, đã qua sử dụng có giá trị 1.530.000 đồng; 01 ba lô vải màu đen đã qua sử dụng, không xác định được nhãn hiệu, tình trạng nên Hội đồng không có cơ sở tiến hành định giá theo quy định”.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q, Phạm Anh T đã khai nhận do thấy balo của chị Nguyễn Phương T2 để trong xe, không có người xung quanh, bị cáo nảy sinh lòng tham, lén lút chiếm đoạt mang về nhà cất giấu.

Vật chứng vụ án:

+ 01 (một) Macbook Air Retina 13inch, A1932, đã qua sử dụng; 01 (một) Airpods phiên bản 5B59, số máy: A2031, đã qua sử dụng; 01 (một) Căn cước công dân số: 040197014301 mang tên Nguyễn Phương T2; 01 (một) giấy phép lái xe hạng A1, B2 mang tên Nguyễn Phương T2 và 500.000đ (năm trăm ngàn đồng). Đây là tài sản của chị Nguyễn Phương T2 mà bị cáo Phạm Anh T đã lấy trộm và tự nguyện giao nộp lại. Cơ quan điều tra Công an Q đã trả lại tài sản trên cho chị T2;

+ 01 (một) nón bảo hiểm GRS Helmers màu đỏ, đã qua sử dụng, có kiếng che; 01 (một) túi đeo chéo màu xanh đen hiệu Gucci kích thước 25cm x 16cm; 01 (một) áo thun ngắn tay màu xám, gạch ngang trắng ở cổ tay; 01 (một) quần Jean ống dài, màu xanh lợt là đồ vật bị cáo Phạm Anh T đã sử dụng vào ngày 24/03/2023 khi đi trộm tài sản;

+ 01 (một) xe gắn máy hiệu Honda Vision màu đỏ, gắn biển số: 93P2-588.08, số máy: JF86E5112054, số khung: RLHJF5835LZ405186 là phương tiện bị cáo Phạm Anh T đã sử dụng vào ngày 24/03/2023 khi trộm tài sản. Theo Kết luận giám định số 6568/KL-KTHS ngày 20/06/2023 của Phòng K Công an Thành phố H kết luận: “biển số xe cần giám định 93P2-588.08 là giả”. Kết luận giám định số 3519/KL-KTHS ngày 20/06/2023 của Phòng K Công an Thành phố H kết luận: “số khung bị mài đục số, không xác định được số nguyên thủy; Số máy bị mài đục số, không xác định được số nguyên thủy”. Bị cáo Phạm Anh T khai chiếc xe bị cáo mua với giá 25.000.000 đồng trên mạng, bị cáo cho chị Ngô Thị Huỳnh N1 sử dụng, hai bên không làm hợp đồng tặng cho. Chị N1 không có yêu cầu gì về chiếc xe này.

Về trách nhiệm dân sự: Chị Nguyễn Phương T2 đã nhận lại tài sản, không yêu cầu gì đối với bị cáo.

Tại bản Cáo trạng số 122/CT-VKSQ7 ngày 12/7/2023 Viện kiểm sát nhân dân Quận 7 truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa: Bị cáo khai nhận bản thân kinh tế khó khăn, thấy cốp xe của chị Nguyễn Phương T2 mở, bên trong có một balo màu đen, nên nảy sinh ý định chiếm đoạt mang về nhà cất giấu; khi Cơ quan điều tra mời làm việc bị cáo đã mang lên giao nộp lại toàn bộ.

Tại phiên tòa, trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 7 vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 02 đến 03 năm.

Về trách nhiệm dân sự: Chị T2 đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu gì đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Theo quy định pháp luật.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa;

Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 7, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, đương sự không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Căn cứ lời khai nhận tội của bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên tòa; kết hợp với các tài liệu, chứng cứ thu thập được có trong hồ sơ vụ án, xét có đủ cơ sở để kết luận: Bị cáo Phạm Anh T thực hiện hành vi lén lút trộm cắp tài sản của Chị Nguyễn Phương T2. Căn cứ Kết luận định giá tài sản số 113/KL-HĐĐGTTHS ngày 10/4/2023 của Hội đồng Định giá tài sản Tố tụng hình sự Quận G, kết luận: “01 Macbook Air 13 inch, model A1932, core i5. Ram 8Gb, số seri: C02YV4H3JK77 đã qua sử dụng có giá trị 8.170.000 đồng; 01 tai nghe Airpod Model A2031, số seri GWHZJ6QGJMMT, đã qua sử dụng có giá trị 1.530.000 đồng; 01 ba lô vải màu đen đã qua sử dụng, không xác định được nhãn hiệu, tình trạng nên Hội đồng không có cơ sở tiến hành định giá theo quy định”. Do đó, hành vi của bị cáo Phạm Anh T đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”. Tội phạm và hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, bị cáo đã khắc phục hậu quả, nộp lại tài sản chiếm đoạt; có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị hại chị Nguyễn Phương T2 có đơn xin bãi nại, xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Bản thân bị cáo là lao động chính, đang trực tiếp nuôi con còn nhỏ. Do vậy, Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Căn cứ hướng dẫn của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTPngày 15 tháng 5 năm 2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTPngày 15 tháng 4 năm 2022 sửa đổi, bổ sung một số điều Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTPngày 15 tháng 5 năm 2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Xét thấy bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, là lao động chính đang trực tiếp nuôi con còn nhỏ; từ khi chấp hành xong bản án cho đến nay bản thân bị cáo chấp hành tốt chính sách, pháp luật, thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ công dân tại địa phương nơi cư trú; bị cáo đã bị kết án nhưng thuộc trường hợp được coi là không có án tích; tính chất, mức độ của tội phạm mới thực hiện thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, nên Hội đồng xét xử thấy không cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội cũng đủ tác dụng giáo dục, răn đe bị cáo để trở thành công dân tốt cho xã hội.

Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, bị hại Chị Nguyễn Phương T2 đã nhận lại tài sản, không yêu cầu gì, tại phiên tòa vắng mặt nên không xét.

Về xử lý vật chứng:

+ 01 (một) Macbook Air Retina 13inch, A1932; 01 (một) Airpods phiên bản 5B59, số máy: A2031; 01 (một) CCCD số: 040197014301 mang tên Nguyễn Phương T2; 01 (một) giấy phép lái xe hạng A1, B2 mang tên Nguyễn Phương T2 và số tiền 500.000đ (năm trăm ngàn đồng) Cơ quan điều tra, Công an Q đã trả cho chị Nguyễn Phương T2 là có căn cứ.

+ 01 (một) nón bảo hiểm GRS Helmers màu đỏ, đã qua sử dụng, có kiếng che; 01 (một) túi đeo chéo màu xanh đen hiệu Gucci kích thước 25cm x 16cm; 01 (một) áo thun ngắn tay màu xám, gạch ngang trắng ở cổ tay; 01 (một) quần Jean ống dài, màu xanh. Bị cáo không có yêu cầu nhận lại, không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

+ 01 (một) xe gắn máy nhãn hiệu Honda Vision, màu đỏ, gắn biển số: 93P2-588.08, số máy: JF86E5112054, số khung: RLHJF5835LZ405186. Kết luận giám định số 6568/KL-KTHS ngày 20/06/2023 của Phòng K Công an Thành phố H kết luận: “biển số xe cần giám định 93P2-588.08 là giả”. Kết luận giám định số 3519/KL-KTHS ngày 20/06/2023 của Phòng K Công an Thành phố H kết luận: “số khung bị mài đục số, không xác định được số nguyên thủy; Số máy bị mài đục số, không xác định được số nguyên thủy.” Tại phiên tòa bị cáo khai nhận, mua xe qua mạng, để sử dụng làm phương tiện đi lại, không thực hiện thủ tục sang tên theo quy định nên không phát biết biển số xe giả, xe bị làm giả số khung số máy nên tich thu sung quỹ Nhà nước.

Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Phạm Anh T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

1. Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017:

Xử phạt: Bị cáo Phạm Anh T 01 (một) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 (hai) năm tính từ ngày tuyên án.

Giao bị cáo Phạm Anh T cho Ủy ban nhân dân thị trấn N, huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh để giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách; trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 Luật Thi hành án hình sự.

2. Tiếp tục áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo Phạm Anh T cho đến khi có Quyết định Thi hành án theo quy định của pháp luật.

3. Căn cứ khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:

3.1. Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) nón bảo hiểm GRS Helmers màu đỏ, đã qua sử dụng, có kiếng che; 01 (một) túi đeo chéo màu xanh đen hiệu Gucci kích thước 25cm x 16cm; 01 (một) áo thun ngắn tay màu xám, gạch ngang trắng ở cổ tay; 01 (một) quần Jean ống dài, màu xanh lợt.

3.2. Tịch thu sung quỹ: 01 (một) xe Honda Vision màu đỏ, gắn biển số: 93P2-588.08, số máy: JF86E5112054, số khung: RLHJF5835LZ405186.

(theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản số 124 ngày 28/7/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 7).

4. Về án phí: Áp dụng các Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Luật Phí và lệ phí và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (hai trăm ngàn) đồng.

5. Về quyền, nghĩa vụ thi hành án: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 được sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 được sửa đổi, bổ sung năm 2014.

6. Về quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày Tòa tuyên án, bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm đến Tòa án nhân dân Tp. Hồ Chí Minh. Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.

Đã giải thích chế định án treo cho bị cáo tại phiên tòa.

Cỡ chữ