- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Tấn K, Nguyễn Hữu Đ - phạm tội cướp giật tài sản (điều 171 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Lê Tuấn K và Nguyễn Hữu Đ cùng phạm tội “Cướp giật tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 110/2023/HS-ST Ngày: 25 - 5 - 2023 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Hoàng Sơn.
Các Hội thẩm nhân dân:
1/ Ông Lại Hữu Tâm
2/ Bà Phan Thị Dòn
Thư ký phiên toà: Bà Châu Nguyễn Thanh Thảo – Thư ký Toà án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện khaiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Thanh Hòa – Khaiểm sát viên.
Trong ngày 25 tháng 5 năm 2023, tại Phòng xét xử hình sự thuộc Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công Khai vụ án hình sự thụ lý số 83/2023/TLST - HS ngày 17/4/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 95/2023/QĐXXST – HS ngày 26/4/202 đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Lê Tuấn K, sinh năm 1993, tại tỉnh Bình Phước; giới tính: Nam; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: B5/9 ấp 3, xã B, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh; chỗ ở: Không nơi cư trú nhất định; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 7/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Khainh; tôn giáo: Không; Họ và tên cha: Lê Minh P; họ và tên mẹ: Trần Thị N; hoàn cảnh gia đình: Bị cáo có vợ tên Châu Thị Cẩm T, có 01 người con sinh năm 2015.
Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 02/5/2012, bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh, ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở chữa bệnh bắt buộc với thời hạn 24 tháng, theo quyết định số 2082/QĐ - UBND. Chấp hành xong quyết định vào ngày 19/4/2014, theo Giấy chứng nhận số 33/GCN - PĐ ngày 26/4/2014 của Trung tâm Giáo dục Lao động Xã hội Phú Đức.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 12/11/2022 ( có mặt).
2. Họ và tên: Nguyễn Hữu Đ, sinh năm 1991, tại Thành phố Hồ Chí Minh; giới tính: Nam; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: 112/1 Bùi Minh Trực, Phường A, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; chỗ ở: Không nơi cư trú nhất định; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ học vấn: 5/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Khainh; tôn giáo: Không; Họ và tên cha: Nguyễn Hữu N; họ và tên mẹ: Quách Thị N; hoàn cảnh gia đình: Bị cáo chưa có vợ, con.
Tiền án: Không.
Tiền sự: Ngày 02/12/2020, bị Công an Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt hành chính số tiền 350.000 đồng, tịch thu sung vào công quỹ số tiền 90.000 đồng về hành vi “Đánh bạc trái phép”, theo Quyết định số 0018815/QĐ - XPHC. Đóng phát ngày 25/8/2022.
Nhân thân:
Ngày 02/02/2015, bị Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, theo Bản án số 28/2015/HSST. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 07/11/2015, theo Công văn số 222/TGXL - HS ngày 07/12/2022 của Trại giam Xuân Lộc (Cục C10). Đóng án phí ngày 12/5/2015, theo Công văn số 574/CCTHADS ngày 14/12/2022 của Chi cục Thi hành án Dân sự Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh.
Ngày 06/6/2016, bị Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 21 tháng, theo Quyết định số 251/QĐ - TA. Chấp hành xong quyết định ngày 29/11/2017, theo Giấy chứng nhận số 620/GCN - GD ngày 18/10/2017 của Cơ cở Cai nghiện ma túy Bảo trợ Xã hội Phú Văn.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 12/11/2022 ( có mặt).
Bị hại: Bà Huỳnh Tâm T, sinh năm 2004 (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
Nơi cứ trú: Ấp H, xã L, huyện H, tỉnh Tiền Giang.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
1/ Ông Lý Văn D, sinh năm 1963 (vắng mặt).
Nơi cư trú: 100/20 Phong Phú, Phường A, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
2/ Ông Võ Minh B, sinh năm 1993 (vắng mặt).
Nơi cư trú: Nhà không số thuộc ấp 3, xã B, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lê Tuấn K và Nguyễn Hữu Đ có mối quan hệ là bạn bè. Khoảng 14 giờ ngày 12/11/2022, K điện thoại rủ Đức đi qua Quận 7 cùng với K để mượn tiền và hẹn gặp nhau tại ngã 4 đường Nguyễn Văn Linh - Quốc lộc 50. Sau đó, K mượn xe mô tô hiệu Wave, biển số: 59L1-334.58 của ông Võ Minh B đến đón Đức. Trên đường đi, K nảy sinh ý định cướp giật tài sản của người đi đường bán lấy tiền tiêu xài và rủ Đức cùng thực hiện, Đức đồng ý. Cùng lúc này, K phát hiện bà Huỳnh Tâm T đang đứng ở lề đường đối diện trước địa chỉ A17/02A, ấp 1A, xã Bình Hưng, huyện Bình Chánh trên tay bà Thư đang cầm chiếc điện thoại di động hiệu Vsmart Joy 3. K liền chỉ cho Đức thấy rồi chạy xe qua lề đường đối diện nơi bà Thư đang đứng; K chạy lên lề đường áp sát vào bên trái của bà Thư để Đức dùng tay trái giật lấy được chiếc điện thoại Vsmart Joy 3 trên tay của bà Thư. K tăng ga bỏ chạy thẳng ra hướng Quốc lộ 50 để tẩu thoát thì bị người dân đuổi theo khống chế bắt giữ giao Công an xã Bình Hưng. Công an xã Bình Hưng lập hồ sơ ban đầu và chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bình Chánh để điều tra, giải quyết.
Theo kết luận định giá tài sản số 410/KL-HĐĐGTS ngày 15/12/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện Bình Chánh xác định: 01 điện thoại di động hiệu Vsmart Joy 3 có giá trị là 800.000 đồng.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bình Chánh thì Lê Tuấn K và Nguyễn Hữu Đ đã Khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên, phù hợp với lời Khai của bị hại, vật chứng thu giữ được, camera ghi nhận sự việc và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Vật chứng thu giữ gồm: 01 điện thoại di động hiệu Vsmart Joy 3; 01 USB chứa dữ liệu được trích xuất từ camera gắn tại hiện trường; 01 xe mô tô, loại Wave, biển số 59L1-334.58, số khung: Y-019511, số máy: HC12E-0625399; 01 áo thun ngắn tay màu đỏ, phía trước có dòng chữ “Tự hào mùa hoa chiến dịch” màu trắng và 01 quần sọt Jeans thu giữ của Nguyễn Hữu Đ; 01 áo thun ngắn tay màu đen, có ghi dòng chữ “Givenchi Paris” và 01 cái áo dài tay màu đen thu giữ của Lê Tuấn K.
Tại bản Cáo trạng số 93/CT - VKS - BC ngày 30 tháng 3 năm 2023, Viện khaiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố các bị cáo Lê Tuấn K và Nguyễn Hữu Đ về tội "Cướp giật tài sản” theo điểm d Khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa các bị cáo Lê Tuấn K và Nguyễn Hữu Đ đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình giống như lời Khai tại Cơ quan điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Đồng thời thừa nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản Cáo trạng Viện khaiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh truy tố các bị cáo. Các bị cáo không tranh luận, lời nói sau cùng bị cáo K xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, bị cáo Đ không phát biểu lời nói sau cùng.
Tại phiên tòa đại diện Viện khaiểm sát giữ quyền công tố sau khi nêu tóm tắt nội dung vụ án, phân tích tính chất của vụ án những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị:
Xử phạt bị cáo Lê Tuấn K từ 04 năm đến 04 năm 06 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản” theo điểm d Khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu Đ từ 04 năm 06 tháng đến 05 năm tù về tội “Cướp giật tài sản” theo điểm d Khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và xử lý vật chứng theo quy định.
Bị hại có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, nội dung đơn thể hiện bị hại đã nhận lại tài sản không yêu cầu gì về dân sự và xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Bình Chánh, Điều tra viên, Viện khaiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh, Khaiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý khaiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Tại các bản tự khai, biên bản ghi lời khai, các bị cáo trình bày lời khai hoàn toàn tự nguyện, không bị ép cung, nhục hình. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Lời Khai nhận tội của các bị cáo Lê Tuấn K và Nguyễn Hữu Đ tại tòa là phù hợp với nhau; phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra (BL: 152 – 164, 195 - 209); phù hợp với lời khai của bị hại bà Huỳnh Tâm T (BL: 137 – 142) phù hợp với các chứng cứ, tài liệu thu thập có trong hồ sơ vụ án. Vụ án còn được chứng minh qua hoạt động điều tra như Biên bản bắt người có hành vi phạm tội quảtang; Biên bản lấy lời khai, Biên bản thực nghiệm điều tra; thu giữ vật chứng, kết quả định giá tài sản, cùng các chứng cứ tài liệu thu thập có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:
Vào khoảng 14 giờ 46 phút ngày 12/11/2022, các bị cáo Lê Tuấn K và Nguyễn Hữu Đ có hành vi cướp giật 01 điện thoại di động hiệu Vsmart Joy 3 có giá trị 800.000 đồng của bà Huỳnh Tâm T trước địa chỉ A17/02A, ấp 1A, xã Bình Hưng, huyện Bình Chánh (Theo kết quả định giá tài sản số 410/KL-HĐĐGTS ngày 15 tháng 12 năm 2022 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện Bình Chánh) thì bị quần chúng truy đuổi bắt quả tang.
Với những tình tiết được chứng minh trên, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận các bị cáo Lê Tuấn K và Nguyễn Hữu Đ đã phạm tội “Cướp giật tài sản”, tội phạm được quy định tại Điều 171 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); nên Cáo trạng Viện khaiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh đã truy tố các bị cáo với tội danh nêu trên là đúng người, đúng tội.
[3] Tội phạm các bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, không chỉ xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ mà còn ảnh hưởng đến an ninh, trật tự xã hội tại địa phương. Các bị cáo phạm tội với lỗi cố ý, mục đích phạm tội là muốn có tiền tiêu xài cho bản thân, mua ma túy sử dụng mà không chịu bỏ công sức ra lao động chân chính. Khi thực hiện hành vi phạm tội các bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc làm của mình là sai trái, là vi phạm pháp luật nhưng bản tính tham lam, biếng lười lao động, muốn có tiền tiêu xài cho bản thân nên đã cố ý phạm tội. Do đó, khi lượng hình cần buộc các bị cáo phải tiếp tục chấp hành hình phạt tù có thời hạn một thời gian thì mới có tác dụng giáo dục, răn đe, phòng ngừa chung.
[4] Đây là vụ án có đồng phạm nhưng mang tính chất giản đơn, trong đó bị cáo K là người khởi xướng, rủ rê, điều khiển xe còn bị cáo Đ khi được bị cáo K rủ là đồng ý ngay, trực tiếp giật điện thoại. Bị cáo Đ có 01 tiền sự chưa được xóa, nhân thân xấu đã từng bị đưa đi cái nghiện bắt buộc, đã từng bị kết án về tội xâm phạm sở hữu; bị cáo K có nhân thân xấu. Do đó, khi lượng hình mức án đối với bị cáo Đ sẽ cao hơn bị cáo K là phù hợp với hành vi phạm tội, vai trò và nhân thân của các bị cáo.
[5] Các bị cáo dùng xe mô tô làm phương tiện phạm tội là thuộc trường hợp dùng thủ đoạn nguy hiểm đây là tình tiết định khung hình phạt, Hội đồng xét xử áp dụng điểm d Khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) để xét xử các bị cáo và có mức án nghiêm khắc.
[6] Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Khi lượng hình Hội đồng xét xử có cân nhắc đến các tình tiết các bị cáo thành khẩn Khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, tài sản kịp thời thu hồi giao trả cho bị hại, thiệt hại chưa xảy ra; bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo. Đây là các tình tiết giảm nhẹ cho các bị cáo được quy định tại điểm h, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
[7] Xử lý vật chứng của vụ án:
Đối với xe mô tô hiệu Wave, biển số 59L1-334.58; số khung: Y-019511; số máy: HC12E-0625399. Qua điều tra, ông Võ Minh B Khai mua lại của ông Lý Văn D nhưng không có làm hợp đồng mua bán. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bình Chánh đã tiến hành tra cứu và xác định xe mô tô trên do ông Lý Văn D đứng tên chủ sở hữu. Qua xác minh Công an Phường 12, Quận 8 cung cấp ông Dũng không đăng ký thường trú và không thực tế cư trú tại địa chỉ trên. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bình Chánh đã tiến hành đăng báo tìm chủ sở hữu nhưng đến nay chưa có kết quả. Do đó, để đảm bảo quyền lợi cho chủ sở hữu hợp pháp xe trên, Hội đồng xét xử giao xe này cho Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Bình Chánh tiếp tục làm thủ tục đăng báo tìm chủ sở hữu và xử lý theo quy định pháp luật.
Đối với 01 áo thun ngắn tay màu đỏ, phía trước có dòng chữ “Tự hào mùa hoa chiến dịch” màu trắng và 01 quần sọt Jeans thu giữ của Nguyễn Hữu Đ; 01 áo thun ngắn tay màu đen, có ghi dòng chữ “Givenchi Paris” và 01 cái áo dài tay màu đen thu giữ của Lê Tuấn K. Đây là tài sản của các bị cáo, các bị cáo từ chối nhận lại, tài sản này không còn giá trị sẽ tịch thu tiêu hủy theo điểm a Khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Đối với 01 USB ghi nhận diễn biến hành vi phạm tội của các bị cáo sẽ tiếp tục lưu vào hồ sơ vụ án.
Đối với 01 điện thoại di động hiệu Vsmart Joy 3, Cơ quan điều tra đã trả lại cho bị hại bà Huỳnh Tâm T theo Biên bản về việc trả lại tài sản, đồ vật được lập vào hồi 14 giờ 45 phút ngày 26/12/2022, Hội đồng xét xử ghi nhận.
[8] Về dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt và không yêu cầu gì về dân sự nên không đặt ra giải quyết.
[9] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí theo quy định tại tại Khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ điểm d Khoản 2 Điều 171; điểm h, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Lê Tuấn K.
Căn cứ điểm d Khoản 2 Điều 171; điểm h, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Nguyễn Hữu Đ.
Căn cứ điểm a Khoản 2, điểm b Khoản 3 Điều 106; Khoản 2 Điều 136, Điều 299, Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên bố các bị cáo Lê Tuấn K và Nguyễn Hữu Đ cùng phạm tội “Cướp giật tài sản”.
Xử phạt bị cáo Lê Tuấn K 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 12/11/2022.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu Đ 05 (năm) năm tù về tội “Cướp giật tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 12/11/2022.
Về vật chứng:
Tiếp tục lưu giữ vào hồ sơ vụ án 01 USB (đang lưu hồ sơ vụ án).
Tịch thu tiêu hủy: 01 áo thun ngắn tay màu đỏ, phía trước có dòng chữ “Tự hào mùa hoa chiến dịch” màu trắng; 01 quần sọt Jeans; 01 áo thun ngắn tay màu đen, có ghi dòng chữ “Givenchi Paris” và 01 cái áo dài tay màu đen.
Giao Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Bình Chánh 01 xe mô tô loại Wave, biển số 59L1-334.58; số khung: Y-019511; số máy: HC12E-0625399 để làm thủ tục đăng báo và xử lý theo quy định pháp luật.
(các vật chứng trên hiện đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh theo Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng lập vào 14 giờ 00 phút ngày 21 tháng 3 năm 2023 giữa Công an huyện Bình Chánh và Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Bình Chánh).
Về án phí: Buộc mỗi bị cáo chịu 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, tính kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày, tính từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
| Nơi nhận: - TAND TP. HCM; - VKSND H.BC; - CA H. BC; - Chi cục THADS H.BC; - Sở Tư pháp, TP. HCM; - Phòng hồ sơ, CA TP. HCM PV06; - Trại tạm giam đang giam, giữ bị cáo; - Bị cáo; - Đương sự; - Lưu HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Hoàng Sơn |