- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bà Nguyễn Chúc H yêu cầu ly hôn với ông Đinh Văn S"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Chúc H về việc ly hôn đối với
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị
| TỈNH CÀ MAU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 110/2023/HNGĐ-ST Ngày: 25-5-2023 V/v Tranh chấp ly hôn |
NH DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NH DÂN HUYỆN THỚI BÌNH, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Lan Anh
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Thắng
Ông Lý Quốc Cường
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Chúc Ni là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thới
Bình, tỉnh Cà Mau.
Trong ngày 25 tháng 5 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thới Bình,
tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 01/2023/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 01 năm 2023, về việc tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 132/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 19 tháng 4 năm 2023 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Chúc H, sinh năm 1980 (xin vắng mặt)
Địa chỉ: Ấp A, xã TL, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau.
- Bị đơn: Ông Đinh Văn S, sinh năm 1978 (vắng mặt)
Địa chỉ: Ấp A, xã TL, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Trình bày của bà Nguyễn Chúc H tại đơn khởi kiện 22/12/2022 và trong quá
trình giải quyết vụ án:
Về hôn nhân: Bà Nguyễn Chúc H và ông Đinh Văn S tự nguyện chung sống
với nhau có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn tại UBND xã TL, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau vào ngày 25/10/2006. Vợ chồng chung sống không hạnh phúc, phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, hôn nhân không thể kéo dài, bà H và ông S đã ly thân từ tháng 5/2020 cho đến nay nên bà H yêu cầu được ly hôn với chồng là ông Đinh Văn S.
Về con chung: Bà Nguyễn Chúc H và ông Đinh Văn S có 02 người con chung
tên Đinh Trấn K, sinh ngày 28/7/2007 (giới tính nam) và Đinh Nguyễn Đăng K, sinh ngày 20/3/2018 (giới tính nam). Khi ly hôn, bà H tự nguyện để cho ông S tiếp tục nuôi dạy cháu Khiêm, bà yêu cầu tiếp tục nuôi dạy cháu Khoa, bà không đặt ra yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Bà H xác định vợ chồng không có tài sản chung,
nợ chung nên không yêu cầu xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên
tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện các chứng cứ, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng và quan hệ pháp luật tranh chấp: Bà Nguyễn Chúc H khởi kiện
yêu cầu được ly hôn với chồng là ông Đinh Văn S. Đây là tranh chấp hôn nhân và gia đình về việc ly hôn; ông Đinh Văn S có nơi cư trú tại Ấp A, xã TL, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau. Vì vậy, yêu cầu khởi kiện của bà H thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Ông Đinh Văn S đã được triệu tập xét xử hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt
không có lí do, bà Nguyễn Chúc H xin vắng mặt tại phiên tòa. Do đó, xét xử vắng mặt bà H và ông S theo quy định tại khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án:
Hôn nH: Bà Nguyễn Chúc H và ông Đinh Văn S tự nguyện chung sống
với nhau có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn tại UBND xã TL, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau vào ngày 25/10/2006. Vợ chồng chung sống không hạnh phúc, phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, hôn nhân không thể kéo dài, bà H và ông S đã ly thân từ tháng 5/2020 cho đến nay nên bà H yêu cầu được ly hôn với ông S. Xét thấy, quan hệ hôn nhân giữa bà H và ông S đã tuân thủ về điều kiện đăng ký kết hôn tại Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền theo quy định tại Điều 8, 9 của Luật hôn nhân và gia đình nên được pháp luật công nhận là vợ chồng. Thời gian chung sống, bà H xác định bà và ông S không còn tình cảm, không thể tiếp tục chung sống với nhau, mục đích hôn nhân không đạt được, ông bà đã có thời gian dài sống ly thân với nhau nên bà H yêu cầu được ly hôn. Trong quá trình thụ lý giải quyết vụ án, Tòa án có tiến hành hòa giải để ông bà có điều kiện gặp nhau thỏa thuận đoàn tụ gia đình nhưng không có kết quả, do ông S vắng mặt không có lí do, bà H xin vắng mặt tại phiên tòa. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận cho bà H và ông S được ly hôn là phù hợp.
Về con chung: Bà Nguyễn Chúc H và ông Đinh Văn S có 02 người con
chung tên Đinh Trấn K, sinh ngày 28/7/2007 (giới tính nam) và Đinh Nguyễn Đăng K, sinh ngày 20/3/2018 (giới tính nam). Khi ly hôn, bà H tự nguyện để cho ông S tiếp tục nuôi dạy cháu K, bà yêu cầu tiếp tục nuôi dạy cháu K, không đặt ra yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy, cháu K trên 07 tuổi, sống ổn định với ông S, cháu K chưa đủ 07 tuổi, từ trước đến nay do bà H nuôi dạy, ông S không có ý kiến gì phản hồi đối với yêu cầu của bà H về vấn đề con chung, để không làm xáo trộn cuộc sống của các con chung nên cần chấp nhận yêu cầu của bà H, giao cháu K cho ông S tiếp tục nuôi dạy, giao cháu K cho bà H tiếp tục nuôi dạy là phù hợp. Bà H không đặt ra yêu cầu ông S cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét. Bà H, ông S không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm con mà không ai được cản trở.
Tài sản chung: Bà Nguyễn Chúc H xác định không có tài sản chung nên
không đặt ra yêu cầu xem xét, do đó không xét là phù hợp.
Về nợ chung: Bà H xác định vợ chồng không có nợ chung. Quá trình giải
quyết vụ án không ai đặt ra yêu cầu xem xét về nợ chung của vợ chồng nên không xem xét.
Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà H phải chịu án phí Hôn nhân
gia đình sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39,
khoản 1, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Chúc H về việc ly hôn đối với
ông Đinh Văn S.
Về hôn nhân: Bà Nguyễn Chúc H và ông Đinh Văn S được ly hôn.
Về con chung: Giao cháu Đinh Trấn K, sinh ngày 28/7/2007 (giới tính nam)
cho ông S tiếp tục nuôi dạy; Giao cháu Đinh Nguyễn Đăng K, sinh ngày 20/3/2018 (giới tính nam) cho bà H tiếp tục nuôi dạy, bà H không yêu cầu về cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét. Bà H, ông S không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm con mà không ai được cản trở.
Tài sản chung, nợ chung: Không có.
Về án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Nguyễn Chúc H phải nộp 300.000
đồng (ba trăm nghìn đồng);
Vào ngày 04 tháng 01 năm 2022, bà H có dự nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn
đồng) theo biên lai số 0003283 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau, đối trừ và chuyển thu án phí.
4. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật
thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Về quyền kháng cáo, kháng nghị: Báo cho đương sự biết có quyền kháng cáo
bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết công khai bản án. Viện kiểm sát có quyền kháng nghị theo luật định.
| Nơi nhận: - Các đương sự; -VKSND huyện Thới Bình; -Chi cục THADS huyện Thới Bình; -TAND tỉnh Cà Mau; - UBND xã TL; -Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Lê Thị Lan Anh |