vanban.org

Bản án 110/2023/HNGĐ-ST — Tranh chấp về cấp dưỡng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Đào Xuân H đối với bà Phạm Thị Q.

Ông Đào Xuân H có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con tên Đào Gia H (Nay đổi tên thành Phạm Gia H – sinh ngày 25-5-2013 mỗi tháng 3.000.000 đồng (ba triệu đồng) cho đến khi con đủ 18 tuổi. Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về cấp dưỡng — án hôn nhân và gia đình — "Đào Xuân H - Phạm Thị Q"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Đào Xuân H đối với bà Phạm Thị Q.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ VŨNG TÀU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU
Bản án số: 110/2023/HNGĐ-ST
Ngày 03-8-2023
V/v tranh chấp cấp dưỡng nuôi con

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. VŨNG TÀU, TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Dương Thị Hương

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Hà Văn Trường

Ông Nguyễn Văn Hải

- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Lan Hương - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Nhung - Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 63/2023/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 02 năm 2023 về việc “Tranh chấp cấp dưỡng nuôi con”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 79/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 26 tháng 6 năm 2023, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Đào Xuân H, sinh năm 1988.

Địa chỉ: Số 506 đường B, phường N, thành phố V, tỉnh B.

Bị đơn: Bà Phạm Thị Q, sinh năm 1977.

Địa chỉ: Số 3/6A1 đường T, phường T, thành phố V, tỉnh B (vắng mặt lần thứ hai không có lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình tranh tụng tại phiên tòa nguyên đơn ông Đào Xuân H trình bày:

Ông và bà Phạm Thị Q ly hôn theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 444/2020/QĐST - HNGĐ ngày 11-12-2020 của Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu. Tại quyết định ghi nhận bà Phạm Thị Q được quyền trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con chung là cháu Đào Gia H – sinh ngày 25-5-2013, ông có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 5.000.000 đồng. Từ khi vợ chồng ly hôn ông vẫn thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con theo đúng nội dung đã thỏa thuận trong quyết định, có khi chuyển khoản, có khi đưa tiền mặt. Nhưng khi ông đến thăm con thì bà Q không đồng ý còn thường xuyên xúc phạm ông, có khi còn ném đồ ăn ông mang đến cho con. Tháng 6-2021, bà Q đổi họ cho con từ họ bố sang họ mẹ thành Phạm Gia H và không yêu cầu ông cấp dưỡng nuôi con nữa. Đến cuối năm 2021, ông không cấp dưỡng nuôi con do bà Q nói rằng không cần ông cấp dưỡng nuôi con.

Nay, ông khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết những vấn đề sau:

Ông yêu cầu được thăm nom con chung, miễn sao việc thăm nom trong giờ giấc hợp lý và không ảnh hưởng đến sinh hoạt, học tập của con.

Tại thời điểm ly hôn với bà Q ông đang làm thợ hàn nhưng làm tự do với mức thu nhập trung bình mỗi tháng từ 15.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng nhưng hiện nay ông đang thất nghiệp, công việc không ổn định nên không có khả năng cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 5.000.000 đồng vì vậy ông đề nghị thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con từ 5.000.000 đồng/tháng giảm xuống còn 2.000.000 đồng/tháng.

Quá trình tố tụng tại Tòa án, bị đơn bà Phạm Thị Q trình bày:

Bà xác định quá trình ly hôn như ông H trình bày là đúng sự thật. Tuy nhiên bà không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông H về việc thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con. Bà không hề ngăn cản việc ông H thăm nom, chăm sóc con chung và xúc phạm ông H như ông H trình bày. Sau khi ly hôn ông H có cấp dưỡng nuôi con nhưng từ tháng 5-2021 ông H vào nhà cưỡng bức bà nhưng bà không đồng ý nên từ tháng 6-2021 đến nay ông H không thăm con và không cấp dưỡng nuôi con. Thời gian trước đây ông H yêu cầu được thăm con không hợp lý, có khi là con đang đi học, có khi là con đang ngủ. Từ trước khi ly hôn, bà và ông H đã thống nhất là đổi họ cho con vì ông H xúc phạm bà và đến tháng 6/2021 bà và ông H ra phường thực hiện đổi họ cho con.

Về yêu cầu thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con của ông H bà không đồng ý vì hiện nay ông H đang nuôi con riêng của ông H là cháu Đào Xuân L, sinh ngày 22-01-2011, hiện cháu L đang học trường Ngô Thời Nhiệm ở Thành Phố Hồ Chí Minh với mức học phí trung bình mỗi tháng 8.000.000 đồng chưa tính các khoản phụ thu, quần áo, sách vở, học thêm ngoài giờ và đưa đi đón về ngày thứ bảy, chủ nhật hàng tuần. Ngoài ra, ông H đi ăn uống, du lịch những chỗ sang trọng, quán bar do đó ông H không thể chỉ cấp dưỡng cho con bà mỗi tháng 2.000.000 đồng. Ông H vẫn làm công việc tự do cho vay lãi, có tiệm thuốc tây và có xe ô tô tiền tỷ biển số 72A512.87 để sử dụng nên vẫn có thu nhập. Mặc dù thu nhập của ông H lúc có lúc không nhưng có lúc thu nhập rất cao. Hiện nay bà đang làm điều dưỡng với mức thu nhập trung bình mỗi tháng khoảng 5.800.000 đồng, bà và cháu Phạm Gia H hiện đang ở nhà của bà. Nếu ông H thay đổi mức cấp dưỡng thì không đảm bảo cho bà đủ điều kiện để nuôi con vì chi phí hàng tháng của cháu học Tiếng Anh khoảng 2.000.000 đồng, tiền học ở trường 1.000.000 đồng, tổng cộng tiền học khoảng 6.000.000 đồng/tháng. Hiện nay bà đã nộp đơn yêu cầu thi hành án về cấp dưỡng nuôi con.

Tại phiên tòa ông H trình bày: Hiện nay, ông đã phá sản nên phải đi phụ quán dê và làm thêm phụ hồ được khoảng 300.000 đồng/ngày.Tổng thu nhập trung bình khoảng 7.000.000 đồng/tháng. Một năm nay ông đang đi thuê nhà, nhà này của người quen giúp đỡ cho hai bố con ở nhờ nên mỗi tháng ông chỉ phụ tiền điện, nước khoảng 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng. Ngoài ra, ông đang nuôi cháu Đào Xuân L, mỗi tháng chi phí học hành của cháu L ở Thành Phố Hồ Chí Minh khoảng 5.000.000 đồng cộng thêm những chi phí khác. Quá trình nuôi cháu L ông phải vay mượn thêm cộng thêm ông bà nội và mẹ cháu phụ giúp thêm cho ông mỗi tháng từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng để ông lo cho con. Do ông không có khả năng lo cho cháu L học tiếp trên Thành Phố Hồ Chí Minh nên thời gian tới ông sẽ đưa cháu L về Vũng Tàu học.

Ông xác định từ tháng 6/2021 ông không cấp dưỡng nuôi cháu Phạm Gia H. Do hiện nay mức thu nhập trung bình mỗi tháng của ông khoảng 7.000.000 đồng nên ông không có khả năng cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 5.000.000 đồng vì vậy ông đề nghị thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con từ 5.000.000 đồng/tháng giảm xuống còn 3.000.000 đồng/tháng.

Tại phiên tòa đại diện Viện ki m sát nhân dân thành phố V ng Tàu phát bi u ý kiến:

Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định pháp luật. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử và thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn thực hiện đúng, đầy đủ các quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; bị đơn không thực hiện đúng, đầy đủ các quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

. Về tố tụng:

Ông Đào Xuân H yêu cầu thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con đối với bà Phạm Thị Q có địa chỉ cư trú tại thành phố Vũng Tàu. Căn cứ Điều 28; Điều 35; Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự xác định đây là vụ án “Tranh chấp cấp dưỡng nuôi con” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu.

Tại phiên tòa bị đơn bà Phạm Thị Q đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

. Về nội dung:

. Ông H yêu cầu được thăm nom con chung miễn sao việc thăm nom trong giờ giấc hợp lý và không ảnh hưởng đến sinh hoạt, học tập của con.

Xét thấy, yêu cầu được thăm nom con chung miễn sao việc thăm nom trong giờ giấc hợp lý và không ảnh hưởng đến sinh hoạt, học tập của con là quyền và nghĩa vụ của đương sự được quy định tại Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Tại khoản 3 Điều 82 Luật hôn nhân và gia đình quy định “Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở”. Đây là quyền và nghĩa vụ của ông Đào Xuân H được quy định tại Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 và nội dung này đã được thể hiện trong Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 444/2020/QĐST - HNGĐ ngày 11-12-2020 của Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu. Nếu ông H cho rằng bà Phạm Thị Q có hành vi cản trở ông thực hiện quyền, nghĩa vụ thăm nom con thì ông có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc yêu cầu cơ quan thi hành án giải quyết yêu cầu này của ông. Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử không có cơ sở xem xét yêu cầu của ông H về việc được thăm nom con chung miễn sao việc thăm nom trong giờ giấc hợp lý và không ảnh hưởng đến sinh hoạt, học tập của con.

. Xét yêu cầu của ông H về việc thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con từ 5.000.000 đồng/tháng giảm xuống còn 3.000.000 đồng/tháng, thì thấy:

Tại thời điểm ly hôn với bà Q ông H đang làm thợ hàn nhưng làm tự do với mức thu nhập trung bình mỗi tháng từ 15.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng nhưng hiện nay ông đã phá sản, phải đi phụ quán dê và làm phụ hồ với mức thu nhập trung bình khoảng 7.000.000 đồng/tháng. Ngoài ra, hiện nay ông đang đi thuê nhà, mỗi tháng phụ tiền điện, nước khoảng 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng. Bên cạnh đó, ông đang nuôi cháu Đào Xuân L, mỗi tháng chi phí học hành của cháu L ở Thành Phố Hồ Chí Minh khoảng 5.000.000 đồng cộng thêm những chi phí khác. Quá trình nuôi cháu L ông phải vay mượn thêm cộng thêm ông bà nội và mẹ cháu phụ giúp thêm cho ông mỗi tháng từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng để ông lo cho con. Do hiện nay mức thu nhập trung bình mỗi tháng của ông khoảng 7.000.000 đồng nên ông không có khả năng cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 5.000.000 đồng vì vậy ông đề nghị thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con từ 5.000.000 đồng/tháng giảm xuống còn 3.000.000 đồng/tháng. Tuy nhiên, theo bà Q trình bày bà không đồng ý với yêu cầu thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con của ông H vì hiện nay ông H đang nuôi con riêng của ông H là cháu Đào Xuân L, sinh ngày 22-01-2011, hiện cháu L đang học trường Ngô Thời Nhiệm ở Thành Phố Hồ Chí Minh với mức học phí trung bình mỗi tháng 8.000.000 đồng chưa tính các khoản phụ thu, quần áo, sách vở, học thêm ngoài giờ và đưa đi đón về ngày thứ bảy, chủ nhật hàng tuần. Ngoài ra, ông H đi ăn uống, du lịch những chỗ sang trọng, quán bar. Ông H vẫn làm công việc tự do cho vay lãi, có tiệm thuốc tây và có xe ô tô tiền tỷ để sử dụng nên vẫn có thu nhập. Mặc dù thu nhập của ông H lúc có lúc không nhưng có lúc thu nhập rất cao còn hiện nay bà đang làm điều dưỡng với mức thu nhập trung bình mỗi tháng khoảng 5.800.000 đồng, bà và cháu Phạm Gia H hiện đang ở nhà của bà. Nếu ông H thay đổi mức cấp dưỡng thì không đảm bảo cho bà đủ điều kiện để nuôi con vì các khoản chi phí học hành mỗi tháng của cháu Huy khoảng 6.000.000 đồng/tháng. Bà Q nêu ra những cơ sở để bà không đồng ý với yêu cầu thay đổi mức cấp dưỡng của ông H nhưng trong quá trình giải quyết vụ án mặc dù Tòa án đã ra quyết định yêu cầu cung cấp chứng cứ để yêu cầu bà cung cấp các tài liệu, chứng cứ để bảo vệ những lập luận và trình bày của bà nhưng bà không lên Tòa làm việc và không cung cấp bất cứ tài liệu, chứng cứ nào và tại phiên tòa mặc dù đã được tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng bà vẫn vắng mặt không có lý do. Xét thấy, hiện nay mức thu nhập trung bình của ông H mỗi tháng khoảng 7.000.000 đồng, ông H đang đi thuê nhà và nuôi cháu Đào Xuân L vì vậy căn cứ vào thu nhập, khả năng thực tế của người có nghĩa vụ cấp dưỡng là ông H và nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng là cháu Huy nên yêu cầu của ông H về việc thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con từ 5.000.000 đồng/tháng giảm xuống còn 3.000.000 đồng/tháng là hoàn toàn có cở sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu này của ông H.

. Về án phí Dân sự sơ thẩm: Ông Đào Xuân H phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch đối với nghĩa vụ cấp dưỡng định kỳ theo quy định tại khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 5 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, , Điều 227 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 3, Điều 110 và Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử:

Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Đào Xuân H đối với bà Phạm Thị Q.

1. Ông Đào Xuân H có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con tên Đào Gia H (Nay đổi tên thành Phạm Gia H – sinh ngày 25-5-2013 mỗi tháng 3.000.000 đồng (ba triệu đồng) cho đến khi con đủ 18 tuổi.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

2. Về án phí Dân sự sơ thẩm: Ông Đào Xuân H phải chịu 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) án phí cấp dưỡng nuôi con nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0003812 ngày 10-02-2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Vũng Tàu.

5. Quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai để yêu cầu Toà án cấp trên xét xử lại vụ án theo thủ tục phúc thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án Dân sự, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ