- Tranh chấp gì? án dân sự — "Nguyễn Hông Q, Lê Văn B"
- Tòa quyết gì? Về tình cảm: Cho chị Nguyễn Thị Thu Huyền được ly hôn với anh Đinh Nguyễn Nhật Tiến.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
| . TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ CÔNG TÂY TỈNH TIỀN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 110/2023/DS - ST Ngày: 05/5/2023. V/v: “Tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản” |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ CÔNG TÂY, TỈNH TIỀN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đặng Thị Thanh T.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Cẩm H.
Bà Trần Kim C.
- Thƣ ký phiên tòa: ông Lương Huỳnh Phúc T - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Gò Công Tây, tỉnh Tiền Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện G tham gia phiên toà: không tham gia.
Ngày 05 tháng 5 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện G xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 133/2023/TLST-DS ngày 14 tháng 4 năm 2023 về việc: “Tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản”.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 44/2023/QĐXXST-DS ngày 25 tháng 4 năm 2023, giữa các đương sự:
*Nguyên đơn: Nguyễn Hồng Q, sinh năm 1962.
Địa chỉ: ấp T, xã L, huyện G, tỉnh T.
Đại diện theo ủy quyền: Đỗ Thị Thu N, sinh năm 1985.
Địa chỉ: khu phố A, thị trấn V, huyện G, tỉnh T.
*Bị đơn: Lê Văn B, sinh năm 1983.
Địa chỉ: ấp V, xã L, huyện G, tỉnh T.
(Chị N có mặt, anh B có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản hòa giải và trong quá trình giải quyết vụ án đại diện theo ủy quyền nguyên đơn chị Đỗ Thị Thu N trình bày:
Trước đây, anh Lê Văn B có đến cửa hàng bán vật liệu xây dựng do ông Nguyễn Hồng Q làm chủ để mua vật liệu xây dựng, để xây nhà với tổng số tiền là 58.732.000 đồng (năm mươi tám triệu, bảy trăm ba mươi hai ngàn đồng). Sau đó, anh B có trả được số tiền là 8.732.000 đồng (tám triệu bảy trăm ba mươi hai triệu đồng). Hiện nay anh còn nợ lại ông Q số tiền là 50.000.000 đồng (năm mươi triệu đồng) chưa trả. Ông Q đã đến đòi nhiều lần nhưng anh B vẫn chưa trả.
Nay ông Q khởi kiện yêu cầu: Anh Lê Văn B trả cho ông Q số tiền còn nợ là 50.000.000 đồng (năm mươi triệu đồng), trả một lần khi án có hiệu lực pháp luật, không yêu cầu trả lãi.
*Tại bản tự khai bị đơn anh Lê Văn B trình bày:
Trước đây anh có mua vật liệu xây dựng của ông Nguyễn Hồng Q với số tiền là 58.732.000 đồng (năm mươi tám triệu, bảy trăm ba mươi hai ngàn đồng). Sau đó anh có trả cho ông Q được số tiền là 8.732.000đồng (tám triệu bảy trăm ba mươi hai ngàn đồng), hiện nay còn nợ lại ông Q số tiền là 50.000.000 đồng (năm mươi triệu đồng). Nay ông Q kiện yêu cầu anh trả cho ông Q số tiền nợ là 50.000.000 đồng (năm mươi triệu đồng) trả một lần khi án có hiệu lực pháp luật, không yêu cầu trả lãi thì anh có ý kiến anh đồng ý trả nhưng xin trả dần mỗi tháng là 2.000.000 đồng (hai triệu đồng), trả đến khi trả hết số nợ là 50.000.000 đồng (năm mươi triệu đồng).
Tại phiên tòa;
+ Đại diện theo ủy quyền nguyên đơn chị Đỗ Thị Thu N vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, chị N yêu cầu anh B trả cho ông Q số tiền là 50.000.000 đồng (năm mươi triệu đồng), trả một lần khi án có hiệu lực pháp luật, không yêu cầu trả lãi.
+ Bị đơn anh B đồng ý trả cho ông Q số tiền nợ là 50.000.000 đồng (năm mươi triệu đồng) nhưng xin trả dần mỗi tháng là 3.000.000 đồng (ba triệu đồng), trả đến khi nào trả hết số nợ 50.000.000 đồng (năm mươi triệu đồng).
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Qua nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra xem xét tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
. Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Quan hệ tranh chấp giữa ông Nguyễn Hồng Q và anh Lê Văn B là tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản được quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 430 Bộ luật dân sự, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
. Xét yêu cầu khởi kiện của ông Q, có chị N đại diện theo ủy quyền, yêu cầu anh Lê Văn B trả cho ông Q số tiền là 50.000.000 đồng (năm mươi triệu đồng), trả một lần khi án có hiệu lực pháp luật, không yêu cầu trả lãi là có cơ sở: Bởi lẽ, ông Q khởi kiện dựa trên tài liệu, chứng cứ là: “Giấy nợ” có chữ ký tên, ghi họ tên của anh B. Quá trình giải quyết vụ kiện cũng như tại phiên tòa hôm nay, anh B thống nhất thừa nhận anh có nợ ông Q số tiền là 58.732.000 đồng (năm mươi tám triệu, bảy trăm ba mươi hai ngàn đồng), anh có ký tên xác nhận nợ, anh đã trả được 8.732.000đồng (tám triệu bảy trăm ba mươi hai ngàn đồng), hiện nay anh còn nợ lại ông Q số tiền là 50.000.000 đồng (năm mươi triệu đồng), do đó cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Q buộc anh B có nghĩa vụ trả cho ông Q số tiền nợ là 50.000.000 đồng (năm mươi triệu đồng).
. Về thời gian trả: Anh B xin trả số tiền là 50.000.000 đồng (năm mươi triệu đồng), trả dần mỗi tháng là 3.000.000 đồng (ba triệu đồng) trả đến khi trả hết số nợ là 50.000.000 đồng (năm mươi triệu đồng), xét yêu cầu xin trả dần này của anh B không được phía ông Q đồng ý, từ đó cho thấy việc trả dần này của anh B là kéo dài thời gian trả nợ, gây ảnh hưởng đến quyền lợi của ông Q nên không được chấp nhận.
. Xét yêu cầu trả lãi: Do ông Q không yêu cầu anh B trả lãi của số tiền 50.000.000 đồng (năm mươi triệu đồng), xét đây là sự tự nguyện của ông Q nên được chấp nhận.
. Về án phí dân sự sơ thẩm: Do chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Q nên anh B phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Áp dụng Điều 430, Điều 440 Bộ luật dân sự 2015; Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Hồng Q.
Buộc anh Lê Văn B có nghĩa vụ trả cho ông Nguyễn Hồng Q số tiền là 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng).
Thời gian trả khi án có hiệu lực pháp luật.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của ông Q cho đến khi thi hành án xong, anh B còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.
* Về án phí dân sự sơ thẩm:
+ Anh Lê Văn B phải chịu số tiền là 2.500.000 đồng (hai triệu năm trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
+ Do ông Nguyễn Hồng Q là người cao tuổi và có đơn xin miễn nộp tạm ứng án phí, án phí nên không phải hoàn lại tiền tạm ứng án phí cho ông Q.
Về quyền kháng cáo: Các đương sự có mặt được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử theo trình tự phúc thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án Dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự./
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa * Nơi nhận:
- TAND tỉnh T;
- VKSND huyện G;
- Chi cục THADS huyện G;
- Ñöông söï;
- Löu hoà sô.
Đặng Thị Thanh T
Về nội dung: Tại phiên tòa, chị Huyền xin ly hôn, nguyên nhân do anh Tiến có nhiều bất đồng trong cuộc sống vợ chồng, anh Tiến bảo chị nghỉ việc ở Sài Gòn về quê bên nhà của anh Tiến để làm, anh Tiến bỏ chị ra ngoài sống riêng 02 lần, không cần sự đồng ý của chị. Ngoài ra, chị và anh Tiến hay cải vả, gây gỗ về vấn đề tiền bạc. Từ tháng 10/2016 đến nay anh Tiến đã bỏ chị về sống với cha mẹ anh, không còn quan tâm gì đến chị nữa nên anh chị đã ly thân từ tháng 10/2016 đến nay. Nay, chị xác định mâu thuẫn vợ chồng đã rất trầm trọng, chị và anh Tiến không còn tình cảm với nhau, đời sống chung không thể kéo dài và mục đích hôn nhân không đạt được nên chị yêu cầu ly hôn với anh Tiến. Tại biên bản hòa giải và tại phiên tòa, anh Tiến thừa nhận mâu thuẫn chị Huyền trình bày là có nhưng do vợ cố chấp, vợ tự động bắt con đi mà không hỏi ý kiến của ai, anh bỏ đi 03 lần là để vợ nhận ra cái sai của mình.
Xét thấy mâu thuẫn ban đầu không lớn nhưng anh chị không khắc phục được để kéo dài làm ảnh hưởng đến hạnh phúc vợ chồng dẫn đến mâu thuẫn trầm trọng, không thể hàn gắn được nên anh chị đã ly thân từ tháng 10/2016 đến nay, anh Tiến thừa nhận những mâu thuẫn mà chị Huyền trình bày là có nhưng anh không có biện pháp hàn gắn tình cảm, trong thời gian ly thân cũng như trong thời gian Tòa án hòa giải đoàn tụ, anh cũng không chủ động hàn gắn với chị Huyền. Hơn nữa, trong thời gian chuẩn bị xét xử, Tòa án đã tiến hành hòa giải đoàn tụ cũng không có kết quả. Anh Tiến không đồng ý ly hôn, anh đưa ra thời gian để hàn gắn đến cuối năm 2017 nhưng với điều kiện chị Huyền thay đổi thì anh sẽ thay đổi. Lời trình bày nêu trên cho thấy anh Tiến cho thấy anh không còn tha thiết gì đến tình cảm vợ chồng cũng như hạnh phúc gia đình. Xét thấy, mâu thuẫn giữa anh chị đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị Huyền yêu cầu ly hôn với anh Tiến là hoàn toàn có căn cứ cần được chấp nhận phù hợp với Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam.
Về con chung: Anh chị có 01 con chung tên Đinh Ngọc Quỳnh Chi, sinh ngày 18/3/2015 hiện đang sống với anh Tiến, ông Tửu, bà Nga. Ly hôn, chị Huyền yêu cầu được nuôi dưỡng cháu Chi; không yêu cầu anh Tiến cấp dưỡng nuôi con. Anh Tiến cũng yêu cầu được nuôi cháu Chi; không yêu cầu chị Huyền cấp dưỡng nuôi con. Xét yêu cầu được nuôi con của chị Huyền là có cơ sở bởi cháu Quỳnh Chi, sinh ngày 18/3/2015 đến nay cháu mới hơn 02 tuổi, theo quy định tại khoản 3 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình quy định: “Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con”. Mặc khác, Hội đồng xét xử cũng xem xét đến điều kiện trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Chi của anh chị cũng như có xem xét đến hoàn cảnh, môi trường sống của cháu Chi để xét yêu cầu nuôi con của anh Tiến, chị Huyền. Từ nhận định nêu trên, cần giao cháu Quỳnh Chi cho chị Huyền nuôi dưỡng là phù hợp với Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam.
Tuy nhiên, cháu Quỳnh Chi hiện đang sống với anh Tiến, vì công việc nên ông Đinh Văn Tửu và bà Nguyễn Thị Nga là ông bà nội của cháu trực tiếp nuôi dưỡng. Do cháu Quỳnh Chi được giao cho chị Huyền nuôi dưỡng nên Hội đồng xét xử cần buộc anh Tiến, ông Tửu, bà Nga giao cháu Quỳnh Chi cho chị Huyền trực tiếp nuôi dưỡng, giao ngay khi án có hiệu lực pháp luật.
Về cấp dưỡng nuôi con, do chị Huyền không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn trình bày, anh Tiến thừa nhận những mâu thuẫn mà chị Huyền trình bày, anh xin đến cuối năm 2017 sẽ đoàn tụ nhưng chị Huyền cũng phải sửa đổi thì anh sẽ sửa đổi để hàn gắn như vậy, anh Tiến không có thiện chí trong việc vợ chồng đoàn tụ. Xét thấy, mâu thuẫn đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Huyền. Về con chung, chị Huyền tha thiết được nuôi dưỡng cháu Quỳnh Chi, chị có đủ điều kiện để được nuôi cháu Chi tốt nhất, hiện chị đang công tác tại Chi cục thuế quận 10 Thành phố Hồ Chí Minh, có thu nhập và nơi ở ổn định, hơn nữa cháu Quỳnh Chi, sinh ngày 18/3/2015 hơn 02 tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi dưỡng theo quy định tại Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị Huyền được nuôi dưỡng cháu Quỳnh Chi, không yêu cầu anh Tiến cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: chị Huyền, anh Tiến khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Chị Huyền phải chịu án phí theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
- Áp dụng các Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình;
- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Thu Huyền.
- Về tình cảm: Cho chị Nguyễn Thị Thu Huyền được ly hôn với anh Đinh Nguyễn Nhật Tiến.
- Về con chung: Giao cho chị Nguyễn Thị Thu Huyền được nuôi dưỡng con chung tên Đinh Ngọc Quỳnh Chi, sinh ngày 18/3/2015. Chị Huyền không yêu cầu anh Tiến cấp dưỡng nuôi con.
Buộc anh Đinh Nguyễn Nhật Tiến, ông Đinh Văn Tửu và bà Nguyễn Thị Nga có nghĩa vụ giao cháu Quỳnh Chi cho chị Huyền nuôi dưỡng, giao ngay khi án có hiệu lực pháp luật.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom, chăm sóc con chung không ai được quyền ngăn cản.
- Về án phí HNST:
Chị Nguyễn Thị Thu Huyền phải chịu số tiền 300.000đồng án phí hôn nhân sơ thẩm nhưng chị được trừ vào số tiền tạm ứng 300.000đồng theo biên lai số 34889 ngày 13/2/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Gạo. Như vậy, chị Huyền đã nộp xong.
Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng ông Tửu kháng cáo kể từ ngày Tòa án tống đạt hoặc niêm yết bản án hợp lệ.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án Dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự.
Án tuyên và kết thúc cùng ngày./.
| * Nơi nhận: - TAND tỉnh TG; - VKSND huyeän Chợ Gạo; - C.c. THADS huyện CG ; - Ñöông söï (ñeå thi haønh); - UBND xã Anh Thạnh Thủy;. - Löu hoà sô. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Phan Thanh Bình |