- Tranh chấp gì? Tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất — án dân sự — "Hồng Kim M- Hồng Kim H1"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo của ông Hồng Ngọc A, Hồng Kim M, Hồng Ngọc S.
- Căn cứ chính? Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 110/2023/DS-PT Ngày 12 – 4 – 2023 V/v chia thừa kế quyền sử dụng đất |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Dương Hùng Quang.
Các Thẩm phán
Ông Huỳnh Văn Út.
Bà Châu Minh Hoàng.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trọng Bằng – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên toà: Ông Bùi Trung Biển – Kiểm sát viên.
Ngày 26/12/2022 và ngày 12/04/2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau xét xử công khai vụ án dân sự phúc thẩm thụ lý số: 244/2022/TLPT-DS ngày 14 tháng 10 năm 2022 về việc tranh chấp chia thừa kế quyền sử dụng đất.
Do bản án dân sự sơ thẩm số: 172/2022/DS-ST ngày 25 tháng 7 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện Tr n Văn Th i bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 237/2022/QĐ-PT ngày 14 tháng 11 năm 2022 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn:
1/ Bà Hồng Kim M, sinh năm: 1948; Địa chỉ cư trú: Đư ng V, khóm 1, phư ng T, thành phố C, tỉnh C.
2/ Ông Hồng Ngọc S, sinh năm: 1962; Địa chỉ cư trú: Ấp K, xã K, huyện T, tỉnh C.
3/ Ông Hồng Ngọc A, sinh năm: 1952; Địa chỉ cư trú: Số 287, đư ng T, khóm 5, phư ng 9, thành phố C, tỉnh C .; chỗ ở hiện nay: Đư ng K, khóm 6, phư ng 9, thành phố C, tỉnh C (có mặt).
Bà M và ông S ủy quyền cho ông Hồng Ngọc A tham gia tố tụng theo giấy ủy quyền ngày 06/6/2018 và ngày 13/6/2018.
- Bị đơn: Bà Hồng Kim H1, sinh năm: 1961 (có mặt). Địa chỉ cư trú: Ấp K, xã K, huyện T, tỉnh C.
a
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của bị đơng
: Luật sư Đoàn Vinh Q - Công ty Luật TNHH Khang Linh thuộc Đoàn Luật sư thành phố Hồ Chí Minh Địae chỉ: Số 33/56 đư ng số 5, phư ng Bình Hưng Hòa, quận Bình Tân, thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).
|
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
2
1/ Ngân hàng N - Chi nhánh huyện T, tỉnh C; Địa chỉ: Khóm 9, thị t, huyện T, tỉnh C ..
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Đỗ Văn Nhận - Phó Giám đốc Ngân hàng A Chi nhánh huyện T, tỉnh C theo giấy ủy quyền số 292 (vắng mặt).
2/ Bà Hồng Thị Q (Hồng Kim Q), sinh năm 1963 (chết).
Người thừa kế quyền và nghĩa vụ của bà Quán:
- Ông Nguyễn Văn H4 (Nguyễn Văn Tùng), sinh năm 1967 (chồng)
- Anh Nguyễn Trung T2, sinh năm 1993 (con)
- Anh Nguyễn Chí C, sinh năm 1994 (con)
Cùng địa chỉ cư trú: Ấp B, xã B, huyện C, tỉnh A .. Ông H4, anh T2 và anh C ủy quyền cho ông Hồng Ngọc A tham gia tố tụng theo giấy ủy quyền ngày 04/6/2018 và ngày 10/6/2021.
3/ Ông Tr n Văn H2, sinh năm 1956; Địa chỉ cư trú: ấp K, xã K, huyện T, tỉnh C . (xin vắng mặt).
4/ Chị Tr n Kim D1, sinh năm: 1982; Địa chỉ cư trú: ấp K, xã K, huyện T, tỉnh C .. Ủy quyền cho H2 ngày 22/3/2019
5/ Anh Tr n Minh K, sinh năm: 1981; Địa chỉ cư trú: ấp K, xã K, huyện T, tỉnh C . (vắng mặt).
6/ Chị Tr n Mỹ L, sinh năm: 1986; Địa chỉ cư trú: ấp K, xã K, huyện T, tỉnh C . (xin vắng mặt).
7/ Anh Tr n Hoàng H3, sinh năm: 1990; Địa chỉ cư trú: ấp K, xã K, huyện T, tỉnh C . (có mặt).
8/ Anh Tr n Hoàng D2, sinh năm: 1996; Địa chỉ cư trú: ấp K, xã K, huyện T, tỉnh C .. Ủy quyền cho H2 21/3/2019
9/ Chị Lý Cẩm T3, sinh năm: 1988; Địa chỉ cư trú: ấp K, xã K, huyện T, tỉnh C .. Ủy quyền cho anh Tr n Hoàng H3 26/3/2019.
- Người kháng cáo: Hồng Ngọc A, Hồng Ngọc S và Hồng Thị Q Hồng Kim M là nguyên đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện ngày 02/6/2018 và tại phiên tòa, nguyên đơn ông Hồng Ngọc A trình bày:
- Về quan hệ huyết thống: Cha và mẹ của ông là ông Hồng Văn Thương (chết 2002) và bà Huỳnh Thị Nể (chết năm 1956) sinh được 02 ngư i con tên
a
Hồng Kim M và ông. Năm 1960, ông Thương chung sống với bà Huỳnh Thị Liêng (chết năm 1997) sinh được 02 ngư i con tên Hồng Ngọc S và Hồng Thị Q (chếte năm 2018) có chồng là ông Nguyễn Văn H4 (Tùng) có 02 ngư i con tên Nguyễn Trung T2 và Nguyễn Chí C
|
Khoảng năm 1986, ông Thương sống chung với bà Phạm Thị Tuyến (Tím)
3
không có con chung chỉ có 01 ngư i con nuôi tên Hồng Kim H1 khoảng 4 đến 5 tuổi.
- Về nguồn gốc di sản: Vào khoảng năm 1975, bà nội của các đồng nguyên đơn là cụ Tạ Thị Diêu (chết năm 1986) có mua ph n đất diện tích 41.900m2 của bà Hồng Lệ Nhan, khi cụ Diêu chết cha của ông là ngư i được hưởng thừa kế theo pháp luật nên cha của ông quản lý, sử dụng. Đến năm 1996 cha của ông được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, ông xác định đây là tài sản riêng của cha ông. Khi cha ông chết không để lại di chúc. Khi đó 04 ngư i con gồm: Bà M, ông A, ông S và bà Quán có làm biên bản thỏa thuận để ph n đất này cho bà Tuyến quản lý, hưởng hoa lợi cho đến khi bà Tuyến chết.
Khoảng năm 1971 cha ông sống với bà Tuyến cùng với bà H1 thì các con đều ở riêng. Khi bà H1 có chồng thì bà H1 cất nhà ở riêng. Cha ông với bà Tuyến không ở chung với các con, cho đến khi cha ông chết thì có nợ khoảng 12,5 chỉ vàng 24k. sau đó bà M đứng ra trả nợ thay cho cha ông bằng cách lấy ph n đất này cho bà H1 thuê, lấy tiền trả nợ. Việc cho bà H1 thuê đất có làm hợp đồng. Tuy nhiên, bà H1 lấy 06 công đất cố cho bà Hồng Thị Lâm, có xảy ra tranh chấp được Tòa án giải quyết xong. Do bà H1 không trả tiền thuê đất, bà M lấy lại đất nên xảy ra tranh chấp có yêu c u đến chính quyền địa phương giải quyết thì các bên thỏa thuận để bà H1 làm tiếp 3 năm (2015-2017) để trả số nợ 09 chỉ vàng 24k. Năm 2018, ông A về gặp bà H1, bà H1 nói đã trả xong khoản nợ của cha ông và ông yêu c u lấy lại đất để chia thừa kế, chia điều cho 5 thành viên thì bà H1 không đồng ý nên xảy ra tranh chấp.
Nay các đồng nguyên đơn yêu c u chia thừa kế cho 5 thành viên, yêu c u chia điều có tiền có hậu, mỗi ngư i 8.380m2. Ph n đất giáp với ông Võ Trư ng Giang chia lại cho bà H1; ph n kế tiếp chia cho ông, có khu mộ của cha mẹ để tiện chăm sóc; kế tiếp chia cho bà M; kế tiếp chia cho anh T2, anh C; kế tiếp chia cho ông S giáp đất bà Hồng Thị Lâm. Đối với cây trái trên đất ph n của ai thì ngư i đó hưởng.
Đối với căn nhà vách ván nền đất cột cây gỗ của bà H1 thì di d i đi vì trước đây bà Tuyến có hỏi ông cất nhà và sửa chửa để ở, việc bà Tuyến có hỏi mượn một số tiếp lô xi măng sau khi di d i thì ph n này trả lại cho bà M.
Đối với yêu c u phản tố của bà H1, ông không đồng ý. Theo ông bà H1 không có công sức đóng góp gìn giữ, cải tạo gì đến ph n đất này. Đất này hiện nay bà H1 quản lý toàn bộ.
Đối với khoản tiền vay Ngân hàng N- Chi nhánh huyện T vào ngày 14/4/2004, số tiền 28.000.000 đồng và tiền lãi phát sinh đến ngày 05/7/2022 là 119.597.333 đồng. Yêu c u bà H1 có nghĩa vụ trả.
* Tại đơn yêu cầu phản tố ngày 16/7/2018 và tại phiên tòa bà Hồng Kim H1
a
trình bày:
g
e
Ông Thương sống chung với bà Tuyến từ năm 1968, lúc đó bà khoảng 8 tuổi. Về nguồn gốc ph n đất tranh chấp: Khoảng năm 1976, ông Thương với bà
|
Tuyến mua ph n đất này của bà Hồng Lệ Nhan với giá 750.000 đồng, có bà Lê Thị Huệ chứng kiến, ông Thương và bà Tuyến quản lý, sử dụng đến ngày 08/3/1994
4
ông Thương và bà Tuyến có đơn xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào ngày 20/02/1996, theo hồ sơ thể hiện cấp cho hộ gia đình tại th i điểm cấp có 7 nhân khẩu nên phản tố đối với yêu c u của các đồng nguyên đơn về việc yêu c u chia di sản thừa kế.
Do ông Thương và bà Tuyến chết không để lại di chúc nên yêu c u chia theo pháp luật. Tài sản thừa kế là diện tích đất 41.900m2 đất tọa lạc tại ấp K, xã K, huyện T, tỉnh C .. Chia làm 02 ph n của ông Thương và bà Tuyến là tài sản chung.
Ph n của bà giáp với đất ông Giang đo qua ngang 52m, cập ph n đất bà được hưởng chừa đư ng đi chiều ngang 4m chạy thẳng ra sau hậu để làm lối đi ra ph n đất được chia; ph n còn lại chia điều từ ngoài sông chạy vào cho từng ngu i còn lại (bản vẽ kèm theo) ph n khu mộ giữ nguyên hiện trạng cho các bên đến thăm nôm chăm sóc.
Ph n còn lại của ông Thương chia cho 4 kỹ ph n gồm: Bà M, ông A, ông S, bà Quán (Tính, Cương) là ngư i thừa kế thế vị của bà Quán.
Đối với yêu c u công sức đóng góp, gìn giữ 16 năm = 80.000.000 đồng thì bà H1 xin rút lại. Đối với cây trồng trên đất không yêu c u xem xét.
Đối với việc vay tiền Ngân hàng nông nghiệp tính đến nay khoản tiền 100.000.000 đồng thì buộc các nguyên đơn phải liên đới trả.
* Tại đơn yêu cầu độc lập ngày 06/7/2022 của Ngân hàng N-Chi nhánh huyện T và tại phiên tòa ông Đỗ Văn Nhận trình bày: Ông xác định vẫn giữ nguyên yêu c u độc lập xác định ngày 04/4/2004, bà Phạm Thị Tuyến (Tím) có ký hợp đồng tín dụng với Ngân hàng để vay số tiền 28.000.000 đồng và có thế chấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số E0127258, diện tích 41.900m2, cấp cho hộ ông Hồng Văn Thương vào ngày 20/02/1996. Do bà Tuyến đứng ra vay theo giấy đề nghị vay vốn xác định thành viên trong hộ gia đình có bà Hồng Kim H1. Nay bà Tuyến chết nên buộc bà H1 có nghĩa vụ trả khoản nợ trên cho ngân hàng. Tính đến ngày 05/7/2022, tổng số tiền 119.597.333 đồng. Tại phiên tòa ông Đỗ Văn Nhận đại diện cho ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt N-Chi nhánh huyện T thống nhất để bà Hồng Kim H1 có nghĩa vụ trả nợ cho ngân hàng. Tính đến ngày 05/7/2022, tổng số tiền 119.597.333 đồng (trong đó gốc 28.000.000 đồng, lãi trong hạn 62.122.667 đồng, lãi quá hạn 29.474.667 đồng).
* Tại biên bản hòa giải ngày 27/3/2019: ông Tr n Minh Hạ, anh Tr n Minh K, chị Tr n Mỹ L và anh Tr n Hoàng H3 thống nhất nội dung trình bày của bà H1 không có ý kiến gì thêm.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số 172/2022/DS-ST ngày 25 tháng 7 năm 2022
của Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời tuyên xử:
a
1. Chấp nhận một ph n yêu c u khởi kiện của bà Hồng Kim M, ông Hồngg Ngọc A, ông Hồng Ngọc S về việc yêu c u phân chia di sản thừa kế của ông Hồnge Văn Thương đối với ph n đất có tổng diện tích 15.086m2 theo bản vẽ trích đo hiện trạng ngày 02/5/2019 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện Tr n Văn| Th i tại các thửa số 375, 374 và 129, t bản đồ số 03; đất tọa lạc tại Ấp K, xã K, huyện T, tỉnh C.
5
Buộc bà Hồng Kim H1 giao lại một ph n đất trồng cây lâu năm và ph n đất trồng lúa để phân chia thừa kế cho các thừa kế của ông Thương được hưởng kỷ ph n cụ thể như sau:
Bà Hồng Kim M được nhận ph n đất trồng cây lâu năm và đất trồng lúa có diện tích 3.777,9m2. Mặt tiền hướng nam tiếp giáp với lộ xi măng hiện hữu, kích thước 8,07m, mặt hậu phía bắc tiếp giáp với ph n đất của ông Tr n Văn Hẹ kích thước 6,57m. Phía tây tiếp giáp với ph n đất bà Hồng Thị Lâm chiều dài kích thước 545,48m, phía đông tiếp giáp với ph n đất chia cho ông Hồng Ngọc A chiều dài kích thước 544,1m ( thuộc một ph n các thửa số 375, 374 và 129).
Ông Hồng Ngọc A được nhận ph n đất trồng cây lâu năm và đất trồng lúa có diện tích 3.771,8m2. Mặt tiền hướng nam tiếp giáp với lộ xi măng hiện hữu, kích thước 8,07m, mặt hậu phía bắc tiếp giáp với ph n đất của ông Tr n Văn Hẹ kích thước 6,57m. Phía tây tiếp giáp với ph n đất bà Hồng Kim M được nhận, phía đông tiếp giáp với ph n đất chia cho ông Hồng Ngọc S chiều dài kích thước 542,71m (thuộc một ph n các thửa số 375, 374 và 129).
Ông Hồng Ngọc S được nhận ph n đất trồng cây lâu năm và đất trồng lúa có diện tích 3.764,7m2. Mặt tiền hướng nam tiếp giáp với lộ xi măng hiện hữu, kích thước 8,07m, mặt hậu phía bắc tiếp giáp với ph n đất của ông Tr n Văn Hẹ kích thước 6,57m. Phía tây tiếp giáp với ph n đất bà Hồng Ngọc A được nhận, phía đông tiếp giáp với ph n đất chia cho anh Nguyễn Trung T2 và anh Nguyễn Chí C chiều dài kích thước 541,33m (thuộc một ph n các thửa số 375, 374 và 129).
Anh Nguyễn Trung T2, anh Nguyễn Chí C được nhận ph n đất trồng cây lâu năm và đất trồng lúa có diện tích 3.769,35m2. Mặt tiền hướng nam tiếp giáp với lộ xi măng hiện hữu, kích thước 8,09m, mặt hậu phía bắc tiếp giáp với ph n đất của ông Tr n Văn Hẹ kích thước 6,6m. Phía tây tiếp giáp với ph n đất bà Hồng Ngọc S được nhận, phía đông tiếp giáp với ph n đất chia cho bà Hồng Kim H1 chiều dài kích thước 539,95m (thuộc một ph n các thửa số 375, 374 và 129).
Không chấp nhận ph n yêu c u khởi kiện của bà Hồng Kim M, ông Hồng Ngọc A, ông Hồng Ngọc S về việc yêu c u phân chia di sản thừa kế của ông Hồng Văn Thương đối với ph n đất có tổng diện tích 19.597m2
Chấp nhận yêu c u phản tố của bà Hồng Kim H1 về việc yêu c u phân chia di sản thừa kế của ông Hồng Văn Thương và bà Phạm Thị Tuyến. Ph n đất có diện tích 27.907,6m2. Mặc tiền phía nam tiếp giáp với lộ xi măng hiện hữu, chiều ngang kích thước 55,20m, mặt hậu phía bắc giáp với ph n đất của ông Nguyễn Văn Lũy, kích thước 54,40m; phía tây tiếp giáp với ph n đất của anh T2, anh C được nhận, cạnh dài 539,95m. Phía đông tiếp giáp với ph n đất bà Nguyễn Thị Hương, cạnh dài kích thước 532,74m. (thuộc thửa số 130, một ph n các thửa số 375, 374 và
a
129). Trong diện tích đất có khu mồn mã 508m2 có đư ng đi vào khu mồ mãg ngang 3m từ lộ xi măng đến khu mồ mã. Giao cho bà Hồng Kim H1 quản lý the cúng.
|
(Kèm theo mãnh trích đo địa chính số 62-2019 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện Tr n Văn Th i lập ngày 02/5/2019; BL: 323).
6
Đình chỉ đối với yêu c u phản tố của bà Hồng Kim H1 về việc yêu c u buộc các đồng nguyên đơn trả công sức đóng góp, gìn giữ số tiền 80.000.000 đồng.
Chấp nhận yêu c u độc lập của Ngân hàng nông nghiệp và phát tiển nông thôn Việt Nam về việc yêu c u bà Hồng Kim H1 trả số tiền 119.597.333 đồng. Buộc bà Hồng Kim H1 phải có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng N, số tiền 119.597.333 đồng (Trong đó gốc 28.000.000 đồng, lãi trong hạn 62.122.667 đồng, lãi quá hạn 29.474.667 đồng).
Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về chi phí đo đạc thẩm định, định giá, án phí quyền kháng cáo của các đương sự.
Ngày 29/7/2022 đại diện các nguyên đơn ông Hồng Ngọc A kháng cáo yêu c u sửa bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Tr n Văn Th i, yêu c u chấp nhận yêu c u khởi kiện của các nguyên đơn, bác toàn bộ phản tố của bị đơn; Ph n mồ mã phải giao cho phía nguyên đơn cụ thể giao cho ông hoặc tách riêng và xin được nhận khu mồ mã theo hiện vật, nếu việc chia đất có chênh lệch ph n của ông bị thiếu ông vẫn đồng ý.
Tại phiên tòa phúc thẩm: Ông Hồng Ngọc A vẫn giữ nguyên yêu c u khởi kiện và yêu c u kháng cáo.
Bà Hồng Kim H1 yêu c u giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Tr n Văn Th i.
Ngư i bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho phía bị đơn đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên theo bản án dân sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Tr n Văn Th i.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên toà phát biểu: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán trong quá trình giải quyết vụ án; của Hội đồng xét xử và những ngư i tiến hành tố tụng, ngư i tham gia tố tụng tại phiên tòa đúng quy định pháp luật. Về nội dung vụ án: Căn cứ các tài liệu chứng cứ thể hiện tại hồ sơ. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng Dân sự. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 172/2022/DS-ST ngày 25 tháng 7 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện huyện Tr n Văn Th i.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về thủ tục tố tụng: Tại cấp sơ thẩm bà Hồng Kim H1 có đơn yêu c u rút lại nội dung yêu c u tiền công sức cải tạo, g n giữ mồ mã. Do đó cấp sơ thẩm Đình chỉ xét xử đối với yêu c u của Bà Hồng Kim H1 là hoàn toàn phù hợp pháp luật.
Xét kháng cáo của ông Hồng Ngọc A còn trong th i hạn luật định. Tuy ông Hồng Ngọc A là đại diện theo ủy quyền của các đồng nguyên đơn và ngư i liên quan là anh T2 và anh C, nhưng tại đơn kháng cáo chỉ ghi tên ông Hồng Ngọc
a
A là ngư i yêu c u kháng cáo là đồng nguyên đơn và cũng là ngư i đại diện theog ủy quyền. Thực tế trong vụ án các nguyên đơn gồm ông Hồng Ngọc A, ông Hồnge Ngọc S và bà Hồng Kim M và ngư i có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là anh T2, anh C, ông H4 đã ủy quyền cho ông Hồng Ngọc A tham gia tố tụng. Bà M và ông| A, ông S thuộc trư ng hợp được miễn án phí. Cấp sơ thẩm không làm rõ anh T2, anh C có kháng cáo không, mà chỉ làm thông báo về việc miễn dự nộp án phí cho7 ông Hồng Ngọc A là có thiếu xót không chính xác.
Về nội dung kháng cáo. Ông Hồng Ngọc A xác định nguồn gốc ph n đất di sản thừa kế là của ông Hồng Văn Thương là của cụ nội ông là bà Tạ Thị Diêu để lại cho ông Hồng Văn Thương. Theo đo đạc thực tế ngày 03/3/2023 của Trung tâm Kỹ thuật - Công nghệ - Quan tắc Tài nguyên và Môi trư ng tỉnh Cà Mau thể hiện diện tích là 42.637,9m2, trên ph n đất có một căn nhà, cây gỗ địa phương, nền đất, vách ván cao su, mái lợp túp lô đã cũ, ngôi nhà này có ngồn gốc của cụ Thương. Khi cụ Diêu chết, ông Hồng Văn Thương được hưởng thừa kế, nên cha của ông quản lý, sử dụng. Đến năm 1996 cha của ông được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, xác định nguồn gốc đất của phụ ấm, do đó đây là tài sản riêng của cha ông.
Về hàng thừa kế của ông Thương có 4 ngư i con gồm: Bà Mến, ông A, ông S, bà Quán (Bà Quán chết có ngư i con là Trung và Tính). Bà Hồng Kim H1 là con nuôi của bà Phạm Thị Tuyến (tên khác Tím). Nay yêu c u cấp phúc thẩm buộc bà H1 tháo dỡ di d i căn nhà trả lại mặt bằng đất và chia thừa kế ph n đất 5 kỷ ph n bằng nhau. Giao cho ông trực tiếp chăm sóc ph n khu mộ. Đối với khoản tiền vay Ngân hàng nông Nghiệp bà H1 phải có trách nhiệm tự thanh toán vì tiền này bà H1 là ngư i trực tiếp sử dụng.
Bị đơn bà Hồng Kim H1 cho rằng di sản để chia thừa kế là ph n đất 42.637,9m2 là tài sản chung của ông Thương và bà Tuyến. Ông Thương, bà Tuyến là vợ chồng chết không để lại di chúc, bà là con nuôi riêng của bà Tuyến nên được hưởng 50% khối di sản của bà Tuyến và 1 kỷ ph n của ông Thương. Đồng th i yêu c u trách nhiệm của những ngư i hưởng thừa kế phải trả nợ Ngân hàng. Do giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hiện đã thế chấp cho Ngân hàng N - Chi nhánh huyện T.
Xét thấy ông Thương và bà Nở là vợ chồng sinh ra hai ngư i con là bà Hồng Kim M và ông Hồng Ngọc A. Bà Nở chết năm 1956. Đến năm 1960 ông Thương chung sống với bà Huỳnh Thị Liên (Chết năm 1997) và có hai ngư i con (Hồng Ngọc S và Hồng Kim Quán (tên khác Quắn)). Hôn nhân này hoàn toàn hợp pháp, hai ngư i tự chấm dứt hôn nhân không rõ th i gian nào. Khoảng năm 1971 ông Thương chung sống với bà Phạm Thị Tuyến không có con chung (Bà Tuyến có ngư i con nuôi tên Hồng Kim H1). Ông Thương chết 2002, bà Tuyến chết năm 2012 không để lại di chúc.
Cấp sơ thẩm căn cứ l i khai của bà Hồng Lệ Nhan là ngư i bán đất, cho là do ông Thương, bà Tím cùng đến mua đất vào năm 1976, khi mua đất không có giấy t gì chứng minh, nên xác định đây là tài sản chung của vợ chồng mỗi ngư i
a
hưởng 50%. Bà H1 là con nuôi bà Tuyến nên được hưởng thừa kế của bà Tuyến vàg hưởng 1 kỷ ph n của ông Thương.
e
Qua xem xét các tài liệu chứng cứ, quá trình giải quyết thu thập được xác
|
định Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, được cấp cho ông Hồng Văn Thương vào ngày 20/02/1996. Thực tế trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và hồ sơ
8
cấp đất được lưu trữ, chỉ ghi cấp cho ông Hồng Văn Thương hoàn toàn không ghi cấp cho hộ như bà H1 trình bày và cũng không có tên bà Nguyễn Thị Tuyến (Tím). Tại t khai của địa phương thì có ghi 07 nhân khẩu, nguồn gốc đất của phụ ấm. Th i điểm cấp giấy bà Liên là ngư i vợ thứ hai hợp pháp của ông Thương vẫn còn sống, hiện nay do bà Liên chết nên không xem xét.
Theo l i khai bà Hồng Lệ Nhan cho là năm 1976 ông Thương, bà Tím cùng đến mua, nhưng không có chứng cứ giấy t chứng minh. Nguồn tiền mua đất là của ai không thể hiện. Tại l i khai ngày 20/3/2019 bà Hồng Lệ Nhan cho là bà chuyển nhượng đất cho ông Thương, bà Tuyến. Tại l i khai ông Mạc Thanh Hùng sinh năm 1947 là ngư i láng giềng sống lâu năm g n ph n đất tranh chấp thừa kế, xác định là do cụ Diêu bán đất tại Kinh Hậu đưa tiền cho ông Thương mua của bà Nhan. T tư ng thuật của bà Lê Thị Nhan xác định bà có mua ph n đất tại Kinh Hậu của ông Thương, bà Tuyến. Nhưng qua chứng minh nguồn gốc ph n đất Kinh Hậu là của cụ Diêu không phải là của ông Thương, bà Tuyến. Th i điểm này ông Thương, bà Tuyến sống chung với cụ Diêu. Bị đơn cho là đơn xin cấp giấy ph n ghi quê quán có ghi bằng chử viết tay “vợ Nguyển Thị Tím” nên ph n đất này là tài sản chung của vợ chồng. Xét thấy đơn xin cấp giấy CNQSD đất không có chữ ký của bà Tuyến. Căn cứ đơn xin cấp giấy CNQSD đất, nguồn gốc đất ghi là phụ ấm và Giấy chứng nhận QSD Đất đứng tên ông Hồng Văn Thương. Tại Công văn số 1808/STNMT ngày 08/7/2021 của Sở Tài nguyên môi trư ng tỉnh Cà Mau trả l i cho Tòa án nhân dân huyện Tr n Văn Th i. “Căn cứ danh sách cá nhân được cấp giấy chứng nhận QSD đất có tên trong danh sách kèm theo thì ông Hồng Văn Thương có tên trong danh sách đủ điều kiện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Do đó có căn cứ xác định ph n đất này nguồn gốc của phụ ấm ông Thương để lại cho ông Hồng Văn Thương không phải là tài sản chung của ông Thương, bà Tuyến có được. Cấp sơ thẩm chia tài sản chung của vợ chồng như trư ng hợp bà Tuyến còn sống mỗi ngư i hưởng 50% là chưa có căn cứ.
Hiện nay, bà Nở, bà Liên, bà Tuyến đều đã chết, cho nên các con của ông Thương là hàng thừa kế còn lại gồm bà M, bà Quán, ông A, ông S. Đối với bà Hồng Kim H1 là con nuôi của bà Phạm Thị Tuyến. Song, không có giấy t hộ tịch chứng minh việc bà Tuyến nhận con nuôi, thực tế bà H1 có th i gian chung sống với ông Thương và bà Tuyến từ thuở nhỏ, bà H1 là con ruột của bà Hồng Lệ Nhan cho bà Tuyến nhận làm con nuôi. Việc cấp giấy khai sinh cho bà H1 là sau khi có tranh chấp thừa kế xảy ra. Tại t xác nhận ngày 30/5/2018 bà H1 xác định bà là con ruột của ông Thương và bà Tuyến. Chính quyền địa phương xác nhận ông Thương và bà Tuyến là cha, mẹ ruột của bà H1. Ông Thương, bà Tuyến sống chung từ năm 1968 đến khi chết. Việc xác nhận này là hoàn toàn mâu thuẫn và không có cơ sở. Vì theo bà H1 thừa nhận bà là con nuôi riêng của bà Tuyến, khai sinh thể hiện bà H1 sinh năm 1961. Thực tế trước 1975 ông Thương thoát ly là Công an quân giới của Quân khu 9 (theo bản khai lý lịch công tác). Tháng 11/1971
a
ông mới về địa phương là Công an xã Khánh Hưng và chung sống cùng cụ Tạ Thịg Diêu và bà Tuyến.
e
Năm 1980 bà H1 có chồng và ở riêng. Năm 1993 ông Thương có mua một
|
ph n đất của ông Hồng Phi Hổ để cho bà H1 9.720m2, cho ông S 9.720m2, có thể hiện sổ mục kê riêng biệt với ông Thương, ông S. Sau đó bà H1 không canh tác mà
9
chuyển nhượng lại cho ông Hồng Ngọc S. Năm 2000 thấy bà H1 nghèo khó nên ông Thương cho mượn 6 công đất canh tác tại ph n đất 43.063,2m2 bà H1 tiếp tục đi thế chấp cho bà Hồng Kim Lâm, ông Tr n Văn Ngưởn việc này cũng đã được giải quyết tại Tòa án huyện Tr n Văn Th i. Như vậy chứng minh bà H1, ông S cũng đã được ông Thương cho đất.
Năm 2002 ông Thương chết, bà H1 và chồng là Tr n Văn H2 về ở chung với bà Tuyến (Tím). Năm 2014 bà H1, cùng chồng là ông H2 thuê lại ph n đất này, việc thuê có ký hợp đồng với bà Hồng Kim M đại diện các nguyên đơn (BL 92, 93) để lấy tiền trả nợ ông Thương, bà Tím lúc còn sống. Năm 2015 có tranh chấp hợp đồng thuê đất với bà M được chính quyền giải quyết và cho bà H1 thuê tiếp lấy tiền trả nợ đến năm 2015 anh em tranh chấp chia thừa kế. Tại Biên bản hòa giải ngày 04/6/2015 UBND xã Khánh Bình Tây, huyện Tr n Văn Th i thì bà H1 đồng ý chia 5 kỷ ph n nhưng có yêu c u thêm ph n công sức đóng góp cải tạo. Đối với ph n nợ thì các con chia đều ra.
Xét thấy giữa bà H1 và ông Thương, bà Tuyến là quan hệ con nuôi riêng của vợ và cũng là bố dượng, có quan hệ chăm sóc, nuôi dưỡng trong th i gian dài như cha con. Cho nên theo lẽ công bằng, bà H1 vẫn được quyền hưởng di sản thừa kế như các con ông Thương là phù hợp.
Căn cứ vào Bản trích đo vẽ ngày 03/3/2023 thì ph n đất chia thừa kế có diện tích 42.637,9m2. Chiều ngang mặt tiền giáp lộ bê tông 2.5m là 86,1 m, ngang mặt hậu là 81,50m trên đất có khu mộ (10 ngôi mộ), hiện tại lối vào mộ có vị trí giáp căn nhà của bà Hồng Kim H1 đang ở. Nguồn gốc căn nhà này là nền nhà cũ của ông Thương và bà Tuyến ở, Bà H1 đến sửa chữa và sinh sống đến nay, kết cấu nhà cột cây gỗ địa phương, nền đất vách ván gỗ, mái lợp túp lô. Căn cứ chứng thư thẩm định giá: Nhà trị giá là 120.870.000đ; Cây trồng trên đất là 249.145.000đ; Quyền sử dụng đất 1.515.782.000đ. Tổng cộng 1.885.797.000đ. Căn cứ vào các phân tích trên có cơ sở di sản thừa kế của ông Hồng Văn Thương để lại là ph n đất có diện tích là 42.637,9m2. Hàng thừa kế của ông Thương có 5 ngư i gồm: Bà M, ông A, ông S, bà Quán và bà Hồng Kim H1 nên được chia 5 kỷ ph n.
Do diện tích di sản ph n đất không ngay thẳng, trên đất có khu mộ và lối đi vào mộ diện tích là 470,2m2 và có căn nhà diện tích là 124,2m2. Xét thấy khu mộ phải có lối đi vào để cúng kiến chăm nôm và là của chung hương hỏa của các thừa kế. Do đó c n tách khu mộ và lối đi để làm ph n hương quả chung cho các thừa kế. Đối với căn nhà cây gỗ, vách ván, nền đất nguồn gốc của ông Thương, bà Tuyến loại nhà không kiên cố. Hiện bà H1 đang ở, cho nên buộc bà H1 có trách nhiệm tháo dỡ di d i căn nhà, giao ph n đất lại để chia thừa kế.
Căn cứ vào công văn yêu c u của Tòa án tỉnh Cà Mau về việc cung cấp số đo kích thước chi tiết ph n đất để thuận tiện cho việc chia kỷ ph n. Ngày
a
29/3/2023 Trung tâm- Kỹ thuật - Công nghệ - Quan trắc Tài nguyên và Môi trư ngg đã cung cấp bản vẽ hiện trạng kích thước khu mộ, lối đi vào khu mộ thể hiện cóe chiều ngang 3m, diện tích nhà và từng thửa đất cho các đồng thừa kế cụ thể như sau: Bà Hồng Kim M được nhận ph n đất số LUC/4 giáp ph n đất Hồng Thị Lâm;| Hồng Ngọc S được nhận ph n đất số LUC/5; Bà Hồng Thị Q được nhận ph n đất số LUC/6; ông Hồng Ngọc A được nhận ph n đất số LUC/7; bà Hồng Kim H11 được nhận ph n đất số LUC/8 giáp ph n đất ông Võ Trư ng Giang. (theo bản vẽ0 ngày 29/3/2023)
Đối với bà Hồng Kim Quán đã chết ngư i thừa kế thế vị là anh T2, và anh C là ngư i có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vụ án và đã ủy quyền cho ông Hồng Ngọc A tham gia tố tụng. Trong quá trình giải quyết vụ án không có đơn yêu c u độc lập và không dự nộp tạm ứng án phí. Tại tòa ông Hồng Ngọc A yêu c u được nhận quản lý. Xét thấy ông Hồng Ngọc A chỉ là ngư i được ủy quyền tham gia tố tụng của anh T2, anh C. Anh T2, anh C không có văn bản, nếu được nhận kỷ ph n thì giao lại cho ông A quản lý. Về thừa kế thì anh T2, anh Cư ng là ngư i thừa kế thế vị kỷ ph n của bà Quán cho nên giao anh T2 và anh C kỷ ph n của bà Quán.
Đối với ph n đất khu mộ và đư ng đi vào mộ diện tích là 470,2m2 theo Bản vẽ hiện trạng ngày 29/3/2023 thể hiện từ các điểm C, N8, C2, C1, M10, M11, M12, C3. Về vị trí nằm cắt ngang ph n đất ông Hồng Ngọc A được nhận thừa kế. Theo bản vẽ ngày 03/3/2023 bà H1 yêu c u lối vào mộ 3m đư ng đi khúc khuỷu và sẽ gây khó khăn ảnh hưởng cho các thừa kế khi nhận kỷ ph n thừa kế, cho nên ph n đất này được tách ra làm ph n hương quả và thuộc quyền sử dụng chung của các thừa kế được tính từ ranh giới giữa bà H1 và ông Hồng Ngọc A theo như bản vẽ ngày 29/3/2023 là phù hợp. Vì đây là khu đất hương hỏa của thân tộc nên không thể giao cho bất cứ cá nhân nào mà thuộc quyền sử dụng chung của thân tộc. Đồng th i xét về huyết thống nên giao cho ông Hồng Ngọc A là trưởng nam trực tiếp, chăm sóc. Các thừa kế của ông Thương và con cháu được quyền đến thăm nôm, chăm sóc không ai được ngăn cản.
Đối với Ngân hàng N-Chi nhánh huyện T. Tại phiên tòa sơ thẩm Ngân hàng và bị đơn là bà H1 đồng ý để bà H1 tiếp tục đứng ra thanh toán nợ cho Ngân hàng tính đến ngày 05/7/2022, tổng số tiền 119.597.333 đồng. Xét thấy cấp sơ thẩm chỉ buộc nghĩa vụ trả nợ mà không xem xét hợp đồng thế chấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và xử lý tài sản thế chấp là chưa đúng. Việc vay tiền có thế chấp tài sản là giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên ông Hồng Văn Thương. Khi ký hợp đồng thế chấp vay tiền do bà Phạm Thị Tuyến ký kết, thành viên hộ là bà Hồng Kim H1, thể hiện ngày 14/04/2004 số tiền vay vốn là 28.000.000đ. Tại giấy xác nhận của Ngân hàng ngày 09/5/2016 thành viên thừa kế trong gia đình là bà Hồng Kim H1. Từ khi vay đến nay không ai trả vốn và lãi. Ngư i vay đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nhưng Ngân hàng không khởi kiện từ năm 2005 đến nay, đến khi phát sinh thừa kế mới có yêu c u độc lập. Khi vay có thế chấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên của ông Hồng Văn Thương. Ông Thương chết năm 2002 trước khi vay và thế chấp, lẽ ra Ngân hàng phải yêu c u những ngư i thừa kế của ông Thương ký xác nhận việc thế chấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mới đúng qui định pháp luật đất đai khi giao dịch và để
a
đảm bảo việc xử lý tài sản thế chấp khi ngư i vay không thực hiện trả nợ, do việcg thế chấp này không đúng qui định nên hợp đồng thế chấp giấy chứng nhận quyềne sử dụng đất giữa bà Tuyến với Ngân hàng là vô hiệu, cho nên Ngân hàng phải có nghĩa vụ giao trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các đồng thừa kế của| ông Thương là Bà M, ông S, ông Ngọc Anh, bà Quán và bà H1 để chia thừa kế. Đối với khoản nợ vay khi vay bà Tuyến ký tư cách hộ, thành viên của hộ là bà1 Hồng Kim H1, mục đích vay sản xuất nông nghiệp, bà H1 sống chung bà Tuyến.1 Cho nên buộc bà H1 có nghĩa vụ thanh toán nợ cho Ngân hàng là phù hợp pháp luật.
Từ các phân tích nêu trên có căn cứ chấp nhận kháng cáo của các nguyên đơn về việc chia thừa kế 05 kỷ ph n, nên sửa một ph n bản án dân sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Tr n Văn Th i.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm nhân dân tỉnh Cà Mau đề nghị giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 172/2022/DS-ST ngày 25/7/2022 của Tòa án nhân dân huyện Tr n Văn Th i là chưa phù hợp với các phân tích trên.
Về chi phí tố tụng: Tổng chi phí thẩm định, định giá tài sản ở cấp sơ thẩm và phúc thẩm là 18.911.000đ. Mỗi thừa kế phải chịu là 3.782.000đ.
Ông Hồng Ngọc A có nộp số tiền 13.411.000đ (chi phí thẩm định 1.000.000 đồng, chi phí đo đạc 4.498.000 đồng và 7.913.000đ). Bà Hồng Kim H1 có dự nộp chi phí định giá 5.500.000 đồng.
Do chấp nhận yêu c u của nguyên đơn nên Bà M, ông S, Bà Quán (Tính, Cương) mỗi ngư i phải hoàn trả lại cho ông Hồng Ngọc A số tiền 3.782.000đ. Bà H1 phải chịu 3.782.000đ, bà H1 đã nộp 5.500.000đ, đối trừ ông Hồng Ngọc A phải hoàn lại cho bà 1.718.000đ.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Hồng Kim M, ông Hồng Ngọc A, ông Hồng Ngọc S thuộc trư ng hợp được miễn. Bà Hồng Kim H1 được miễn án phí theo quy định của pháp luật. Ngân hàng N - Chi nhánh huyện T không phải nộp. Bà H1 và Ngân hàng được nhận lại tiền án phí đã dự nộp. Anh Nguyễn Trung T2 và anh Nguyễn Chí C phải liên đới chịu án phí dân sự sơ thẩm số tiền 13.700.000đ.
Án phí dân sự phúc thẩm: Các nguyên đơn không phải nộp thuộc trư ng hợp được miễn.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thư ng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Chấp nhận kháng cáo của ông Hồng Ngọc A, Hồng Kim M, Hồng Ngọc S.
Sửa một ph n bản án dân sự sợ thẩm số 172/2022/DS-ST ngày 25 tháng 7 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện Tr n Văn Th i.
Tuyên xử:
a
1. Chấp nhận yêu c u khởi kiện của bà Hồng Kim M, ông Hồng Ngọc A,g ông Hồng Ngọc S về việc yêu c u phân chia di sản thừa kế của ông Hồng Văne Thương đối với ph n đất có tổng diện tích 42.637,9m2 theo bản vẽ trích đo hiện trạng ngày 03/3/2023 của Trung tâm kỹ thuật - Công nghệ - Quan trắc Tài nguyên| và Môi trư ng tỉnh Cà Mau. Tại các thửa số 375, 374 và 129, t bản đồ số 03; đất tọa lạc tại Ấp K, xã K, huyện T, tỉnh C. 1
2
Buộc bà Hồng Kim H1 tháo dỡ kiến trúc căn nhà cây gỗ, mái túp lô, nền đất, vách gỗ, diện tích căn nhà 124,2m2 nằm trên ph n đất thừa kế. Giao lại ph n đất trồng cây lâu năm và ph n đất trồng lúa tổng diện tích 42.637,9m2 để phân chia thừa kế cho các thừa kế của ông Thương gồm: Bà M, ông A, ông S bà Quán (do Tính và Cương nhận) bà H1. Mỗi ngư i được hưởng kỷ ph n cụ thể như sau:
Bà Hồng Kim M được nhận ph n đất trồng cây lâu năm và đất trồng lúa có diện tích 8.622,6m2. Mặt tiền hướng nam tiếp giáp với lộ xi măng hiện hữu, kích thước 17m từ điểm M19 đến N5, mặt hậu phía bắc tiếp giáp với ph n đất của ông Tr n Văn Hẹ (Tr n Văn Sớm) kích thước 16,30m ( M1,N1). Phía tây tiếp giáp với ph n đất bà Hồng Thị Lâm chiều dài từ điểm M19, M20 đến M1 kích thước 543,74m, phía đông tiếp giáp với ph n đất chia cho ông Hồng Ngọc S từ điểm N5, N14 đến N1 kích thước 541,43m (Theo bản vẽ hiện trạng của Trung tâm kỹ thuật - Công nghệ - Quan trắc Tài nguyên và Môi trư ng tỉnh Cà Mau ngày 29/3/2023 ph n đất LUC 4+CLN 15)
Ông Hồng Ngọc S được nhận ph n đất trồng cây lâu năm và đất trồng lúa có diện tích 8.559,4m2. Mặt tiền hướng nam tiếp giáp với lộ xi măng hiện hữu, kích thước 17m từ điểm N5 đến N6; mặt hậu phía bắc tiếp giáp với ph n đất của ông Tr n Văn Hẹ (Tr n Văn Sớm) kích thước 16,30m (N1,N2). Phía tây tiếp giáp với ph n đất Hồng Kim M được nhận từ điểm N5, N14 đến N1 kích thước 541,43m, phía đông tiếp giáp với ph n đất chia cho bà Hồng Thị Q ( do anh Nguyễn Trung T2 và anh Nguyễn Chí C) từ điểm N6, N13 đến N2 kích thước 538,87m. (Theo bản vẽ hiện trạng của Trung tâm kỹ thuật - Công nghệ - Quan trắc Tài nguyên và Môi trư ng tỉnh Cà Mau ngày 29/3/2023 ph n đất LUC 5 + CLN 14)
Bà Hồng Thị Q (Anh Nguyễn Trung T2, anh Nguyễn Chí C) được nhận ph n đất trồng cây lâu năm và đất trồng lúa có diện tích 8.430,7m2. Mặt tiền hướng nam tiếp giáp với lộ xi măng hiện hữu, kích thước 17m N6,N7 mặt hậu phía bắc tiếp giáp với ph n đất của ông Nguyễn Văn Lũy kích thước 16,30m. (từ điểm N2,N3) Phía tây tiếp giáp với ph n đất Hồng Ngọc S được nhận từ điểm N6, N13 đến N2 kích thước 538,87m, phía đông tiếp giáp với ph n đất chia cho Hồng Ngọc A và khu mộ chiều dài từ điểm N7, N12, M12, M11, N11, N10 đến N3 (Theo bản vẽ hiện trạng của Trung tâm kỹ thuật - Công nghệ - Quan trắc Tài nguyên và Môi trư ng tỉnh Cà Mau ngày 29/3/2023 ph n đất LUC 6+ CLN 13).
Ông Hồng Ngọc A được nhận ph n đất trồng cây lâu năm và đất trồng lúa có diện tích 8.079,6m2. Mặt tiền hướng nam tiếp giáp với lộ xi măng hiện hữu, kích thước 14,14m (các điểm N7, M17, C) mặt hậu phía bắc tiếp giáp với ph n đất của ông Nguyễn Văn Lũy kích thước 16,30m (từ điểm N3,N4). Phía tây tiếp giáp với ph n đất ông Nguyễn Trung T2, Nguyễn Chí Cư ng từ các điểm N7, N12,M11,M12, N11, N10 đến N3, phía đông tiếp giáp với đư ng đi vào mộ 3 m từ
a
điểm C đến điểm C3, N12, C2, N9 đến N4 và giáp ph n đất chia cho bà Hồng Kimg H1. (Theo bản vẽ hiện trạng của Trung tâm kỹ thuật - Công nghệ - Quan trắc Tàie nguyên và môi trư ng tỉnh Cà Mau ngày 29/3/2023 ph n đất LUC 7+10+12)
|
Bà Hồng Kim H1 được nhận ph n đất trồng cây lâu năm và đất trồng lúa có diện tích 8.475,4m2. Mặt tiền hướng nam tiếp giáp với lộ xi măng hiện hữu, kích
1
thước 17m (N8, M16, M5, M4), mặt hậu phía bắc tiếp giáp với ph n đất của ông
3
Nguyễn Văn Lũy kích thước 16,30m (N4,M2). Phía tây tiếp giáp với các điểm N8,C2,N9, đến N4 kích thước 533,42 giáp ph n đất ông Hồng Ngọc A được nhận và đư ng đi vào khu mộ chiều ngang 3m, phía đông tiếp giáp với ph n đất ông Võ Trư ng Giang từ điểm M4, M3 đến M2 chiều dài 531,26m. (Theo bản vẽ hiện trạng ngày 29/3/2023 Trung tâm kỹ thuật - Công nghệ - Quan trắc Tài nguyên và Môi trư ng tỉnh Cà Mau ph n đất LUC 8+CLN 9)
Giao ph n đất (Thửa 11) khu mộ và đư ng vào mộ ngang 3 m từ lộ xi măng đến khu mộ, tổng diện tích 470,2m2. Từ các điểm C, C3, M11,M10, C1,C2, N8 cho ông Ngọc Hồng Anh trực tiếp chăm sóc, làm nơi hương hỏa cho thân tộc. Các con cháu đều có quyền đến thăm nom, chăm sóc, cúng kiến, không ai được ngăn cản. (Kèm theo bản vẽ hiện trạng ngày 29/3/2023 của Trung tâm kỹ thuật - Công nghệ - Quan trắc Tài nguyên và Môi trư ng tỉnh Cà Mau).
(Kèm theo bản vẽ hiện trạng ngày 29/3/2023 của Trung tâm kỹ thuật - Công nghệ - Quan trắc Tài nguyên và Môi trư ng tỉnh Cà Mau).
Đình chỉ đối với yêu c u phản tố của bà Hồng Kim H1 về việc yêu c u buộc các đồng nguyên đơn trả công sức đóng góp, gìn giữ số tiền 80.000.000 đồng.
Hợp đồng thế chấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 14/3/2004 giữa Ngân hàng nông nghiệp & Phát triển nông thôn Việt Nam và bà Phạm Thị Tuyến vô hiệu. Ngân hàng N phải trả cho các thừa kế của ông Thương gồm: Bà M, ông A, ông S, bà Quán (anh T2, anh C), bà H1 (Do ông Hồng Ngọc A đứng ra nhận) giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số E0127258 diện tích 41.900m2 ấp Đá Bạc B, xã Khánh Bình Tây, huyện Tr n Văn Th i đứng tên của ông Hồng Văn Thương do UBND huyện Tr n Văn Th i cấp ngày 20/02/1996 để các thừa kế của ông Thương gồm: Bà M, ông A, ông S, bà Quán (ông T2, anh C) bà H1 đăng ký quyền sử dụng đất theo luật định.
Các đương sự được quyền liên hệ với cơ quan có thẩm quyền để thực hiện việc tách thửa sang tên theo quy định.
Chấp nhận một ph n yêu c u của Ngân hàng. Buộc bà Hồng Kim H1 phải có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng N, số tiền 119.597.333 đồng (Trong đó vốn gốc 28.000.000 đồng, lãi trong hạn 62.122.667 đồng, lãi quá hạn 29.474.667 đồng).
Kể từ ngày 06/7/2022, bà Hồng Kim H1 còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng ngày 14/4/2004 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tính dụng các bên thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Tổ chức tín dụng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay tiếp tục thanh toán cho Tổ chức tín dụng cho vay theo quyết
a
định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suấtg của Tổ chức tín dụng cho vay.
e
2. Chi phí thẩm định, định giá tài sản: Cấp sơ thẩm và phúc thẩm tổng cộng
|
số tiền 18.911.000đ. Ông Hồng Ngọc A có nộp số tiền thẩm định và chi phí đo đạc 13.411.000đ. Bà Hồng Kim H1 có nộp chi phí định giá 5.500.000đ. Bà M, ông A,
1
ông S, Bà Quán (Tính, Cương), bà H1 mỗi ngư i phải chịu là 3.782.000đ. Bà M,
4
ông S, Bà Quán (Tính, Cương), mỗi ngư i phải hoàn trả lại cho ông Hồng Ngọc A số tiền 3.782.000đ. Ông Hồng Ngọc A phải hoàn lại cho bà Hồng Kim H1 số tiền 1.718.000đ.
3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Hồng Kim M, ông Hồng Ngọc A, ông Hồng Ngọc S không phải nộp, thuộc trư ng hợp được miễn. Ngày 15/6/2018 bà M có dự nộp 4.190.000 đồng (lai thu số 0008289); ông A có dự nộp 4.190.000 (lai thu số 0008290); ông S có dự nộp số tiền 4.190.000 đồng (lai thu số 0008291) tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Tr n Văn Th i, được nhận lại. Anh Nguyễn Trung T2 và anh Nguyễn Chí C phải liên đới nộp án phí dân sự sơ thẩm số tiền 13.700.000đ. (Chưa nộp)
Bà Hồng Kim H1 không phải nộp, thuộc trư ng hợp được miễn án phí. Ngày 25/7/2018, bà H1 có dự nộp số 7.386.000 đồng lai thu số 0008473 tại Chi cục thi hành án huyện Tr n Văn Th i được nhận lại. Ngân hàng N - Chi nhánh huyện T không phải nộp. Ngày 07/7/2022 đã tạm ứng án phí sơ thẩm số tiền 2.990.000 đồng lai thu số 0005105 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Tr n Văn Th i được nhận lại.
Án phí dân sự phúc thẩm: Các nguyên đơn không phải chịu. Thuộc trư ng hợp được miễn án phí.
Trường hợp quyết định này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự”.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - Tòa án tỉnh Cà Mau; - VKSND huyện Tr n Văn Th i; - Chi cục THADS huyện Tr n Văn Th i; - Lưu hồ sơ vụ án, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẤM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Dương Hùng Quang |